Sắp đến năm Đinh Dậu (2017) Cùng Khám Phá Di Sản liệt kê ra những danh nhân Việt Nam cầm tinh năm Dậu, cùng hồi tưởng lại những giá trị vô giá mà các bật tiền bối để lại cho con cháu cũng như văn hóa Việt Nam ngày nay !

maxresdefault

Thái Thuận (1441…?): Sinh năm Tân Dậu, quê Bắc Ninh, nhà thơ, danh sĩ thời Lê sơ, bút hiệu Lục Khê, Lã Đường. Lớn lên từ một gia đình quân sự, ông xuất ngũ rồi theo đường khoa cử, đỗ tiến sĩ năm 1475, làm quan ở Hàn lâm viện và Tham Chánh sứ Hải Dương. Nhiệt tình, đạo cao đức trọng, lại nổi tiếng văn chương, ông trở thành 1 trong 28 thành viên của Hội thơ Tao Đàn trứ danh do vua Lê Thánh Tông sáng lập. Ông là thi sĩ xuất chúng của làng thơ Việt Nam đương thời, tác giả tập Lã Đường di thảo đặc sắc với 264 bài thơ về nhiều chủ đề, ngôn ngữ khoáng đạt mà độc đáo, được người đời ghi nhớ, truyền tụng.

DoanThiDiem

Đoàn Thị Điểm (1705-1746): Sinh năm Ất Dậu, quê Hải Dương, nữ sĩ thời Lê mạt, bút hiệu Hồng Hà. Xinh đẹp, tài hoa, ham học hỏi, lại thuộc dòng dõi quý tộc và nổi tiếng văn thơ trong vùng, được đón vào triều làm Giáo thụ, dạy dỗ cung tần. Năm 1739, đất nước loạn lạc, trở về quê, kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều, cùng chồng dạy học, sôi nổi hoạt động văn hóa nghệ thuật. Bà để lại nhiều bài thơ tràn trề tình cảm, da diết, u hoài và tập Truyền kỳ tân phả đầy ấn tượng. Bản dịch song thất lục bát tác phẩm Chinh phụ ngâm của bà còn được đánh giá là công trình dịch thuật từ thơ chữ Hán ra thơ Nôm hoàn hảo nhất trong nền thi ca nước ta thời xưa.

Nguyễn Gia Thiều (1741-1789): Sinh năm Tân Dậu, quê Bắc Ninh, nhà thơ, nhà văn hóa, danh thần thời Lê mạt, bút hiệu Tân Trai, Hy Tôn Tử, Như Ý Thiền Siêu Chân, Tân Thị Viện Tử, Sơn Thủy Nhân Hoa. Linh hoạt, bản lĩnh, văn võ song toàn, có họ hàng thân thích với nhà Trịnh (là cháu ngoại chúa Trịnh Cương), rất được triều đình trọng dụng. Tiến nhanh trên đường binh nghiệp: 18 tuổi đã làm Hiệu úy, 30 tuổi thăng tới Tổng binh, thống quản toàn bộ quân đội, đắc lực giúp việc dẹp loạn, an dân. Ông am hiểu và nổi tiếng cả về văn, triết, sử lẫn âm nhạc, hội họa, kiến trúc. Về nhạc, soạn các bản Sơn trung âm, Sở từ điệu trầm hùng mà réo rắt. Về họa, vẽ nên bức tranh hoành tráng Tống Sơn đồ. Về kiến trúc, được chúa Trịnh tin giao cho việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích. Về thơ ca, ông là tác giả của nhiều bài nổi tiếng, được truyền tụng nhiều nhất là bản Cung oán ngâm khúc và 3 tập thơ: Tân Trai thi tập, Tiền hậu thi tập, Tây hồ thi tập.

Ngô Thì Chí (1753-1788): Sinh năm Quý Dậu, quê Hà Tây, nhà lịch sử văn hóa, danh sĩ thời Lê mạt, bút hiệu Uyên Mật. Nhiều nghị lực, trọng truyền thống, giỏi văn chương, đỗ hương tiến, làm quan đến chức Thiêm Thư Bình chương tỉnh sự, tận tụy phục vụ triều Lê. Ông dành nhiều thời gian dạy học, sáng tác thơ ca và nghiên cứu văn hóa, để lại các tác phẩm giá trị: Quốc sử tiệp lục, học thi thi tập, Học văn thi tập, Hoàng Lê nhất thống chí.

Nguyễn Du (1765-1820): Sinh năm Ất Dậu, quê Hà Tĩnh, nhà thơ, danh sĩ thời Nguyễn sơ, bút hiệu Thanh Hiên. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng nghị lực, sự mẫn cảm, với trí thông minh, đã sớm phò giúp nhà Nguyễn, giữ nhiều cương vị quan trọng, làm tới Hữu Tham tri Bộ Lễ và từng lãnh đạo đoàn đi sứ Trung Quốc năm 1813. Say mê thi phú, ông là tác giả của nhiều bài thơ đa chiều mà nhuần nhị, dạt dào tình cảm trong các tác phẩm chính: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục… Đặc biệt Truyện Kiều với thể thơ lục bát, ngôn ngữ tài hoa, tinh tế và thấm đẫm tinh thần nhân đạo đã đưa ông trở thành thi sĩ vĩ đại trong đàn thơ Việt Nam.

nguyendu

Trịnh Hoài Đức (1765-1825): Sinh năm Ất Dậu, quê Đồng Nai, nhà thơ, nhà sử học, danh thần thời Nguyễn sơ, bút hiệu Cấn Trai. Văn võ song toàn, phong thái mạnh mẽ, năm 1788 thi đỗ rồi ra làm quan, được triều đình trọng dụng, phong tới Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Lễ kiêm Bộ Hình, Phó Tổng tài Quốc sử quán. Ông là nhân vật chủ chốt của Hội thơ Bình Dương thi xã nổi tiếng ở Miền Nam với nhiều thi phẩm bình dị, dân dã, phóng khoáng, được nhiều người ngưỡng mộ, truyền tụng.Ông còn để lại các công trình địa lý, lịch sử, văn thơ giá trị: Gia Định thành thông chí, Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập.

Đặng Huy Trứ (1825-1874): Sinh năm Ất Dậu, quê Thừa Thiên Huế, nhiếp ảnh gia, danh sĩ đời Thiệu Trị, Tự Đức, bút hiệu Hoàng Trung. Từ bé đã nổi tiếng thần đồng, lại khảng khái, giàu khí tiết, đỗ hương nguyên, trở thành vị quan thanh liêm, chính trực, được thăng tới chức Ngự sử. Từng đi sứ Trung Quốc, Thái Lan, Triều Tiên và có công đầu trong việc du nhập, truyền bá nghệ thuật nhiếp ảnh vào Việt Nam. Không chỉ là thủy tổ của ngành nhiếp ảnh nước ta, ông còn là tác giả của nhiều công trình văn thơ, lịch sử, triết luận quy mô: khắc các bộ Tùng chinh di quy, Nhị vị tập; soạn các sách: Hoàng Trung thi văn sao, Khang Hy canh chức đồ, Tứ thập bát hiếu kỷ sự tân biên, Việt sử thanh huấn diễn nghĩa, Nữ giới diễn ca…

dang huy tru

Nguyễn Trung Nguyệt (1909-1976): Sinh năm Kỷ Dậu, quê Bến Tre, nữ sĩ cách mạng, bút danh Bảo Lương. Giàu năng khiếu văn chương. Sôi nổi, nhiệt tình, nồng nàn yêu nước, có mặt trong các tổ chức ái quốc thời đó. Từ năm 1926, bà là thành viên Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội, sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia những lớp chính trị do Tổng bộ bồi dưỡng, viết cho báo Thanh Niên của Tổng bộ. Năm 1929, về nước hoạt động cách mạng, từng bị Pháp bắt giam. Bà để lại sự nghiệp văn thơ đồ sộ gồm nhiều bài chính luận và hơn 3.000 bài thơ đầy nhiệt huyết, rất lãng mạn, mang tính nhân văn, tính chiến đấu cao.

Nguyễn Đức Nguyên (1909-1982): Sinh năm Kỷ Dậu, quê Nghệ An, nhà văn hóa, nhà phê bình văn học, bút danh Hoài Thanh. Thủa nhỏ học ở Vinh, Huế… sau đó làm việc và dạy học tại Huế, nhiệt tình nghiên cứu văn hóa dân tộc. Sau năm 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ, đóng góp xuất sắc cho lĩnh vực văn học nghệ thuật cách mạng. Với ngòi bút đầy mạnh mẽ, hiện đại, sáng tạo, sắc sảo, ông được đánh giá là nhà phê bình văn học nổi bật nhất ở Việt Nam và là một nhà nghiên cứu văn hóa cần mẫn, kỳ cựu, thể hiện qua nhiều tác phẩm gây tiếng vang lớn: Văn chương và hành động, Thi nhân Việt Nam, có một nền văn hóa Việt Nam, Nói chuyện thơ kháng chiến, Nam Bộ mến yêu, Phê bình và tiểu luận, Phan Bội Châu, Chuyện thơ, Tuyển tập Hoài Thanh…

Lưu Quang Thuận (1921-1981): Sinh năm Tân Dậu, quê Quảng Nam, nhà thơ, nhà soạn kịch. Sinh trưởng trong một gia đình trí thức, thủa nhỏ học ở Đà Nẵng, Huế. Từ năm 1937, vào Nam, vừa mưu sinh vừa sáng tác văn chương đăng trên báo chí Sài Gòn. Năm 1943 ra Hà Nội, tiếp tục viết báo, làm thơ, soạn kịch. Từ năm 1946 tham gia kháng chiến, sáng lập Tạp chí Sân khấu và Nhà xuất bản Hoa Lư, từng làm Giám đốc Việt Nam thư ấn cục và công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông là nhà soạn kịch nổi tiếng với nhiều vở kịch thơ lịch sử đặc sắc, được khán thính giả hâm mộ: Lữ Gia, Yến Ly, Lê Lai đổi áo, Phượng Trì thôn, Kiều Công Tiễn, Tấm Cám, Người Hoa Lư, Mối tình Điện Biên… Ông cũng là thi sĩ có bút pháp độc đáo, da diết và ấn tượng qua các tập thơ: Tóc thơm, Việt Nam yêu dâu, Lời thân ái, Mừng đất nước, Cám ơn thời gian…

Bùi Đình Diệm (1921-1988): Sinh năm Tân Dậu, quê Hà Tây, nhà thơ, bút danh Quang Dũng. Năng động, nhiệt thành yêu nước, hăng hái tham gia cách mạng tháng Tám rồi vào bộ đội chiến đấu khắp chiến trường Bắc Bộ và say mê sáng tác thi ca. Bút pháp tài hoa và khí tiết nam nhi cùng tình cảm sâu đậm với quê hương đã giúp ông tạo nên nhiều bài thơ nổi tiếng, tràn đầy tinh thần lạc quan, lãng mạn mà hùng tráng: Tây Tiến, Đôi bờ, Đường trăng, Đôi mắt người Sơn Tây… Sau kháng chiến, ông công tác trong ngành văn hóa nghệ thuật, làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học. Ông để lại các tập thơ: Một chặng đường Cao Bắc, Gương mặt Hồ Tây, Nhà đồi, Hoa lại vàng tháng chạp, Phiên chợ Bắc Hà, Mùa chim ngói dưới chân núi Ba Vì.

Bùi Xuân Phái (1921-1988): Sinh năm Tân Dậu, quê Hà Tây, họa sĩ sơn dầu. Xuất thân từ làng tranh Kim Hoàng, học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1945, chuyên vẽ tranh sơn dầu chủ đề phố phường. Là người sáng tạo, tranh vẽ của ông đều có nét dị biệt, mang đậm truyền thống nhưng rất hiện đại. Các bức Cánh võng, Văn Miếu, Ô Quan Chưởng, Phố cổ Hội An… đã được giới am tường nghệ thuật đánh giá cao. Đề tài ông vẽ đã trở thành một trường phái hội họa đặc trưng của Việt Nam với tên Phố Phái.

Lưu Hữu Phước (1921-1989): Sinh năm Tân Dậu, quê Cần Thơ, nhạc sĩ, viện sĩ, bút danh Huỳnh Minh Siêng. Thủa nhỏ học ở Cần Thơ, Sài Gòn, năm 1940 ra Hà Nội học tại Đại học Y Dược. Trong Cách mạng tháng Tám, vào Sài Gòn nhiệt tình tham gia hoạt động văn hóa xã hội, sáng tác nhiều bài hát ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam, cổ vũ lòng yêu nước trong thanh niên: Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hồn tử sĩ, Tiếng gọi thanh niên… Sau năm 1945, làm Tổng thư ký Ủy ban kháng chiến Nam Bộ rồi lại ra Hà Nội làm Giám đốc trường Văn hóa Thiếu nhi, Phó trưởng đoàn Văn công TƯ…Thời kỳ 1959-1964, giữ chức Vụ trưởng Vụ Âm nhạc, Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam. Năm 1965 vào chiến trường Nam Bộ, viết ca khúc Giải phóng Miền Nam nổi tiếng, giữ chức Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin trong Chính Phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (1969). Sau năm 1975, làm Viện trưởng Viện Âm nhạc và năm 1986 được Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức phong Viện sĩ Thông tấn âm nhạc. Ông là nhạc sĩ hàng đầu của phong trào nhạc hùng tráng với những sáng tác có giá trị âm điệu, ngôn từ rất cao, diễn tả xuất sắc tiềm năng, hoài bão của người Việt Nam (đặc biệt thanh thiếu niên) trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc.

NHÂN HOÀI