Tài liệu thuyết minh – Hoàng cung triều Nguyễn (Phần 1)

Khái quát và các thông tin thuyết minh Hoàng Thành Huế (các công trình phía bên ngoài Hoàng Thành)

Screenshot 1

Trong suốt thời gian 300 năm (1636-1945), Huế đã từng là Thủ phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại nhà Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới sự trị vì của 13 triều vua Nguyễn (1802-1945). Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Các vua, chúa nhà Nguyễn đã xây dựng tại nơi đây một hệ thống kiến trúc bao gồm: Thành hào, cung điện, đền đài, lăng tẩm để phục vụ cho đời sống cung đình và trị vì đất nước trong quá khứ. Đến hôm nay những công trình đó đã đi vào lịch sử của dân tộc, với những giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử – văn hóa – kiến trúc – khoa học…

Ngày 11/12/1993 Quần thể di tích kiến trúc này đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá nhân loại, với tiêu chí số 04: kinh đô điển hình của nhà nước phong kiến Phương Đông. Tổng thể di tích còn lại hiện nay là đỉnh cao của sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên, là bức tranh rõ nét về chân dung Kinh đô xưa của Việt Nam, hội tụ những đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời chứa đựng những sắc thái văn hóa riêng của vùng đất Thuận Hóa- Phú xuân -Thừa Thiên Huế.

Tiêu biểu trong quần thể di tích cố đô Huế là Kinh thành cổ kính. Kinh thành là vòng thành bao bọc ngoài cùng, phía trong còn có 02 vòng thành (Hoàng Thành và Tử Cấm Thành). Ba vòng thành này bố trí đăng đối trên một trục dũng đạo xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc, bao gồm: Kinh Thành, Hoàng Thành, Tử cấm Thành.

Thuyết minh Kinh Thành Huế

Là vòng thành thứ nhất ngoài cùng, được xây dựng dưới thời vua Gia Long vào năm 1805 và hoàn chỉnh vào khoảng những năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Kinh Thành Huế là một trong những thành tựu vĩ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn với chức năng phòng thủ Kinh đô, có chu vi gần 11km, cao 6,6m và dày 21m bao quanh lấy một khu vực rộng 520 ha.

Thành được xây dựng theo kiến trúc Vauban (tên một kỹ sư công binh người Pháp). được xây dựng lồi lõm, dích dắc, với những pháo đài phòng thủ, bố trí gần như đều nhau trên mặt thành giống hình ngôi sao 24 cánh. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày nay. Kinh Đô Huế được xây dựng theo hệ tư tưởng của Nho Giáo và ứng dụng dịch học phong thủy địa lý của phương Đông.

Toàn bộ thành quách cung điện quay mặt về hướng Nam “Thánh nhân nam diện, nhi thính thiên hạ”,(tạm dịch: hướng về ánh sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách sáng suốt). Quay mặt về hướng Nam, Kinh thành lấy núi Ngự Bình cao 104 m bên kia bờ sông làm“Tiền án”, Sông Hương chảy qua trước mặt làm “Minh đường”.

Giữa dòng sông Hương có hai bãi bồi nổi lên (người Huế gọi là Cồn), Cồn Hến bên trái và cồn Giã viên bên phải tạo thế “Tả thanh long, Hữu bạch hổ”. Kinh Thành Huế có tất cả 13 cửa ra vào, trong đó có 10 cửa đường bộ, 02 cửa đường thủy (Đông thành thủy quan – Tây thành thủy quan ) và 01 cửa thông với Trấn Bình Đài (hay còn gọi là đồn Mang Cá nhỏ) nằm ở phía Đông Bắc Kinh thành.

Thuyết minh Hoàng Thành

Tiếp đến là Hoàng Thành là tòa thành bao quanh khu vực hành chính tối cao của triều đình nhà Nguyễn, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành.
Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành hình chữ nhật, mặt Nam và Bắc dài 640m, mặt Đông và Tây dài 568m. Có 04 cửa ra vào trổ theo bốn hướng : phía Nam là Ngọ Môn, phía Đông là cửa Hiển Nhơn, phía Tây là cửa Chương Đức, phía Bắc là cửa Hòa Bình). Trong đó quan trọng nhất là Ngọ Môn và thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô Huế.

Thuyết minh Tử Cấm Thành

Trong cùng là Tử cấm thành, là nơi làm việc hàng ngày và là trung tâm sinh hoạt của nhà vua và gia đình.Tử Cấm Thành có mặt bằng gần như vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m, cao 3,5m.

+ Cửa Thể Nhơn ( Cửa ngăn trên) Phía bên trái Kỳ Đài (từ trong nhìn ra) là Cửa Thể Nhơn, xây dựng vào năm 1805. Đến năm 1829 thời Minh Mạng xây thêm vọng lâu bên trên cửa vòm, Cửa này xưa, chỉ dành riêng cho nhà vua và quần thần từ Đại Nội ra vào Kinh thành hoặc ra Phu Văn Lâu, Nghinh Lương Đình để hóng mát.
Mỗi lần như vậy thường ngăn không cho thường dân đi lại (vì vậy dân gian thường gọi là Cửa ngăn trên).

+ Cửa Quảng Đức (Cửa sập – cửa ngăn dưới) Phía bên phải Kỳ Đài (từ trong nhìn ra) là cửa Quảng Đức, xây dựng năm 1805, phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, đến năm 1829 thời Minh Mạng xây thêm vọng lâu bên trên cửa vòm.
Cửa này xưa chỉ dành cho các bà thuộc Nội cung ra vào, đặc biệt ra hóng mát sông Hương. Trận lụt năm 1953, đã làm sập đổ hoàn toàn phần vòm cửa và vọng lâu (dân gian thường gọi là cửa Sập). Năm 1996 vọng lâu và vòm cửa đã được Trung tâm BTDT Cố đô Huế trùng tu và hoàn chỉnh vào năm 2000.

THUYẾT MINH CỬU VỊ THẦN CÔNG 

Cửu vị thần công là tên gọi 09 khẩu sung thần công bằng đồng, được các nghệ nhân Huế đúc vào năm Gia Long thứ hai (1803) và hoàn tất vào tháng 1 năm 1804. Mỗi khẩu dài 5,1m và nặng gần 11 tấn. Một khối lượng đồng lớn thu gom từ những vũ khí của nhà Tây Sơn, đã được vua Gia Long cho đem nấu chảy đúc thành 09 khẩu súng lớn, xem như một chiến lợi phẩm tượng trưng của triều đại mới. Cửu vị thần công được đặt tên lấy theo tứ thời: Xuân – Hạ – Thu – Đông (dãy nhà bên tả sau cửa Thể Nhân) và ngũ hành: Kim – Mộc – Thuỷ – Hỏa – Thổ ( dãy nhà bên hữu sau cửa Chương Đức).

Vào năm 1816, vua Gia Long đã sắc phong cho 09 khẩu này thêm chức tước và khắc lên thân của nó một cái tên chung: “Thần Oai Vô địch Thượng tướng quân Cửu vị” (hàm nghĩa: Vị thống lãnh quân đội uy dũng ngang hàng với thần linh, vô địch tướng quân ). Cửu vị thần công được đúc, dựa theo nguyên tắc của “Lạc Thư”, lấy con số 09 là số linh để biểu thị tượng trưng quyền lực vô hạn của nhà vua. Bởi vậy khi đúc thành, nó có tính thiêng liêng nhằm để bảo vệ đất nước, chứ chưa khi nào sử dụng, vì thế người ta xem Cửu vị thần công như vị thần linh tối thượng và được gọi là Ông súng hay Thần súng.

Ngoài giá trị lịch sử, Cửu vị thần công còn mang giá trị nghệ thuật cao. Từ kỹ thuật đúc đồng, nghệ thuật trang trí và chạm khắc trên đồng cũng như trên giá súng đều rất điêu luyện và tinh xảo. Đây là những khẩu thần công lớn nhất Việt Nam, là một trong những bộ tác phẩm mỹ thuật bằng đồng đạt tới đỉnh cao của nghề đúc đồng Việt Nam ở đầu thế kỷ XIX. Năm 2012,Cửu vị thần công đã được Thủ tướng chính phủ ra quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia.

THUYẾT MINH KỲ ĐÀI HUẾ

Kỳ đài được xây dựng vào năm 1807, gồm có đài cờ và cột cờ, có tổng chiều cao là 54,5 m. Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau với chiều cao 17,5m. Cột cờ được dựng ở vị trí chính giữa tầng cao nhất của đài cờ. Cột cờ xưa được làm bằng gỗ, cao 30m. Năm Thiệu Trị thứ 06 (1846), cột cờ được trùng tu bằng một cây cột gỗ dài hơn 32m. Đến năm Thành Thái thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn thổi gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang.
Năm 1947 khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy, sang đầu năm 1948 cột cờ được dựng lại bằng bê-tông cốt sắt, cao 37m. Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ, tết, chào mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Trên đỉnh cột cờ có đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng lính canh trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển. Cùng với những bước thăng trầm của Huế, Kỳ Đài là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng.

Ngày 23/08/1945, lần đầu tiên lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tung bay phất phới trên đỉnh Kỳ Đài, dưới sự chứng kiến của hàng vạn người dân cố đô, chấm dứt 143 năm trị vị của vương triều Nguyễn và chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam.

QUẢNG TRƯỜNG NGỌ MÔN

Quảng trường Ngọ Môn có chiều Bắc – Nam là 125m và chiều Đông -Tây dài 360m. Quảng trường Ngọ Môn là nơi tổ chức các cuộc lễ lớn của triều đình như: Lễ Truyền lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), Lễ Ban sóc (phát lịch năm mới), Lễ Duyệt binh hàng năm … Vào ngày 30/08/1945 tại Quảng trường Ngọ Môn đã diễn ra cuộc mít tinh, diễu hành của hàng vạn quần chúng cách mạng, được chứng kiến vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, hoàng đế Bảo Đại ban chiếu thoái vị và trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng lâm thời, chấm dứt vĩnh viễn thời đại quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam. Sau năm 1975 cho đến nay Quảng trường Ngọ Môn được sử dụng cho các hoạt động và tổ chức những sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của dân tộc và của địa phương như: lễ đón giao thừa, khai mạc, bế mạc các kỳ Festival Huế…

Thuyết minh NGỌ MÔN

Ngọ Môn là cổng chính và nằm ở phía Nam của Hoàng Thành, là cổng chỉ dành riêng cho nhà vua cùng đoàn ngự đạo ra vào Hoàng cung hoặc dùng để tiếp đón các sứ thần.Trước đây tại vị trí này là Nam Khuyết Đài, xây dựng đầu thời vua Gia Long. Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833) khi triều Nguyễn tổ chức quy hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng thành, Nam Khuyết Đài bị triệt giải để xây dựng cổng Ngọ Môn uy nghi và to lớn hơn. Hướng Nam, theo quan niệm của địa lý phong thủy phương Đông là hướng “Tý – Ngọ”.Trên thực tế hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế là hướng“Càn -Tốn” (Tây Bắc – Đông Nam), nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ (hướng Nam).

Theo Dịch học hướng Nam là hướng dành cho bậc vua chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị”( tạm dịch: hướng về lẽ sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách sáng suốt).
Trải qua hơn 200 năm với những tác động của thời gian, thiên nhiên, khí hậu miền trung khắc nghiệt và cả khói lửa chiến tranh, nhưng Ngọ Môn vẫn tồn tại và đứng vững cho tới ngày hôm nay để trở thành một biểu tượng của xứ Huế. Để miêu tả ngắn gọn về kiến trúc của Ngọ Môn, ca dao xưa có câu: Về mặt kiến trúc, Ngọ Môn chia làm hai phần chính: Phần nền đài cổng ở phía dưới và lầu Ngũ Phụng ở phía trên.Tuy tính chất và vật liệu xây dựng rất khác nhau nhưng hai thành phần này lại được thiết kế hài hòa với nhau, trở thành một tổng thể thống nhất.

“Ngọ Môn năm cửa chín lầu, Một lầu vàng tám lầu xanh Ba cửa thẳng hai cửa quanh Thân em phận gái, hỏi chốn Kinh thành làm chi….”

Hệ thống nền đài: Có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m, cạnh bên dài 27,6m. Đài được xây bằng gạch đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau. Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1560 m2 (kể cả phần trong lòng chữ U). Thân đài trổ 5 lối đi.Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi, hai lối đi hai bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho quan văn, võ theo cùng trong đoàn Ngự đạo. Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho đội binh lính và voi ngựa theo hầu.

Thuyết minh Lầu Ngũ Phụng:

Lầu Ngũ phụng là phần lầu đặt ở phía trên đài cổng. Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15m chạy suốt thân đài hình chữ U. Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim, trong đó có 100 cây cột, với ý nghĩa tượng trưng cho bách tính trăm dân thiên hạ cùng Vua gánh vác giang sơn. Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang. Mái tầng trên chia thành 09 bộ mái, nhẹ nhàng và thanh thoát. Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói Hoàng lưu ly màu vàng là nơi dành cho vua ngồi dự lễ; tám bộ mái còn lại lợp ngói Thanh lưu ly màu xanh là vị trí của các quan đứng hành lễ. Ngọ Môn là công trình kiến trúc tiêu biểu nhất dưới thời nhà Nguyễn, ngày nay trở thành biểu tượng của cố đô Huế.

Ngọ Môn

Ngọ Môn không chỉ có chức năng là cổng ra vào , mà nó còn được xem như một lễ đài, nơi đây đã được triều đình nhà Nguyễn tổ chức các buổi lễ quan trọng như: lễ Ban Sóc (ban lịch mới), lễ Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa). Đặc biệt vào ngày 30/08/1945, hoàng đế Bảo Đại đã lên lầu Ngũ Phụng cửa Ngọ Môn đọc chiếu thoái vị và trao ấn kiếm cho chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam, trở thành công dân của nước VNDCCH. Trong thời khắc chuyển giao lịch sử đó, 21 quả đại bác nổ rền trên kỳ đài Huế, lá cờ lúc bấy giờ là cờ vàng ba sọc đỏ được kéo xuống để lá cờ đỏ sao vàng tung bay, dưới sự chứng kiến của hàng vạn người dân Huế, chấm dứt 143 năm vương triều Nguyễn và chấm dứt hàng ngàn năm chế độ quân chủ phong kiến trên đất nước Việt Nam.
Ngày nay du khách đến tham Hoàng cung, ngoài việc được chiêm ngưỡng vẻ đồ sộ của thành trì cố đô, còn được chứng kiến nghi lễ Đổi gác (vào lúc 09h đến 9h30 sáng hàng ngày) tại cổng Ngọ Môn, đây là một trong những nghi lễ cung đình được Trung tâm BTDT cố đô Huế tổ chức tái hiện lại nhằm làm sống laị không gian của di sản, đồng thời giúp du khách hình dung một phần sinh hoạt lễ nghi của triều đình nhà Nguyễn.

THUYẾT MINH NGHI MÔN

Cầu Trung Đạo, cầu nối từ cửa Ngọ Môn đến sân Đại Triều Nghi. Cầu được xây bằng đá Thanh. Hai đầu cầu có dựng hai Nghi Môn bằng đồng bề thế, là tác phẩm của các nghệ nhân phường Đúc Huế dưới thời vua Minh Mạng. Trên thân của 04 cột đồng đúc nổi“ Long vân đồng trụ”. Phía trên đỉnh các trụ đồng có những ô hộc trang trí bằng pháp lam (đồ đồng tráng men) rực rỡ với các hình tượng hoa lá, bát bửu rất sinh động. Cả hai mặt đều có gắn chữ nổi khá lớn “Chính Trực Đẳng Bình” và “Cư Nhân Do Nghĩa ” ở mặt Nghi Môn phía Nam . “Cao Minh Du Cửu” và “Trung Hòa Vị Dục” ở mặt Nghi Môn Phía Bắc.

SÂN ĐẠI TRIỀU NGHI

Qua khỏi cầu Trung đạo là sân Đại Triều Nghi rộng trên 3000m2, cuối sân là Điện Thái Hòa. Điện Thái Hòa cùng với sân chầu Đại Triều Nghi là địa điểm được dùng để tổ chức các buổi lễ quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, lễ Hưng Quốc khánh niệm, lễ Tứ tuần đại khánh tiết, lễ Ngũ tuần đaị khánh tiết, lễ đón tiếp các sứ thần ngoại giao và buổi lễ đại triều được tổ chức 02 lần vào ngày mồng 01 và ngày 15 âm lịch hàng tháng. Sân Đại triều có 03 tầng, lát bằng đá Thanh, hai bên sân có dựng 2 hàng “Phẩm sơn” (bia đá nhỏ, trên đề rõ phẩm bậc để các quan xem đó mà sắp hàng cho đúng thứ tự), mỗi phẩm bậc có 02 hạng chánh và tòng. Hàng phẩm sơn bên trái (nhìn từ trong ra) dành cho các vị quan văn. Hàng phẩm sơn bên phải (nhìn từ trong ra) dành cho các vị quan võ. Nguyên tắc sắp xếp phẩm trật này dựa theo nguyên tắc nhất quán của hệ tư tưởng Nho giáo “tả văn hữu võ, tả nam hữu nữ, tả chiêu hữu mục”, bên trái luôn là quan trọng nhất. Tầng trên cùng dành cho các quan văn quan võ từ hàng nhất phẩm đến tam phẩm.

Tầng thứ hai dành cho các quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống. Tầng dưới cùng (gần cầu Trung Đạo), là nơi dành cho các kỳ cựu hương lão đến chầu trong những dịp lễ. Hai bên góc sân thiết đặt hai con Nghê bằng đồng, hai con Nghê này mang ý nghĩa là thái bình, đồng thời nó cũng là biểu tượng nhắc nhở sự nghiêm trang giữa chốn triều nghi, đồng thời còn có chức năng giám sát lòng trung thành của các quan đối với nhà vua. Hiện nay tại sân Đại Triều Nghi (hàng ngày vào lúc 8h sáng và 3h chiều), đội nhã nhạc của nhà hát Duyệt Thi Đường tổ chức tấu trình một đoạn của buổi lễ âm nhạc cung đình. Hình thức biểu diễn này có nghĩa quan trọng trong việc tạo không gian, diện mạo xưa, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của hệ thống di tích cố đô Huế.

THUYẾT MINH ĐIỆN THÁI HÒA

Điện Thái Hòa là ngôi điện quan trọng nhất trong Hoàng Thành, nơi đặt chiếc ngai vàng của vua nhà Nguyễn. Điện được khởi công xây dựng vào tháng 02 năm 1805 và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm, điện Thái Hòa là một trong những công trình tiêu biểu của kiến trúc cung đình Huế với kiểu thức“trùng thiềm điệp ốc” (hai bộ mái trên một mặt nền). Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, nhưng không phải là một dải liên kết mà được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái “chồng diêm”, mục đích là để tránh đi sự nặng nề của một tòa nhà quá lớn đồng thời để tôn cao ngôi điện bằng cách tạo ra ảo giác chiều cao cho tòa nhà. Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt của tòa nhà, dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn trên những tấm pháp lam theo lối “nhất thi nhất họa”(một bài thơ, một họa tiết). Về trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một khái niệm đặc biệt đáng chú ý là con số 05 và con số 09. Hai con số này chẳng những xuất hiện ở trang trí nội ngoại thất của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm của điện. Từ phía Đại Cung Môn của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, nhà vua phải bước lên một hệ thống bậc cấp ở tầng nền dưới là 09 cấp và ở tầng nền trên là 05 cấp. Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái đình cộng lại là 09. Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 05 cấp. Đứng ở sân Đại Triều nhìn vào hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn ra đều thấy trên bộ mái điện đều thấy được 09 con rồng đắp nổi ở trong các tư thế khác nhau: “Lưỡng long chầu hổ phù”,“Lưỡng long triều nhật”,“Hồi long” (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v… Ở trong nội điện, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ đều trang trí 09 con rồng.

BÊN TRONG ĐIỆN THÁI HÒA Bức hoành phi sơn son thiếp vàng khắc ba đại chữ “Thái Hòa Điện” được treo phía trên gian chính giữa của điện, theo các nhà nghiên cứu, chữ Thái Hòa trong tên gọi “Thái Hòa Điện” của công trình này mang ý nghĩa triết học sâu sắc .“Thái” là sự lớn lao, to rộng. Chữ “Hòa” là hài hòa, hòa hợp (cuộc sống hòa hợp giữa âm và dương, giữa cương và nhu, giữa người và người, giữa người và trời đất thì mới hữu ích cho vạn vật. Khi cuộc sống đạt được sự hài hòa rộng lớn trong mọi mối quan hệ thì sẽ có điều kiện để phát triển mạnh mẽ). Có thể xem tên gọi của ngôi điện là một tiêu chí, thể hiện ước nguyện của các vua nhà Nguyễn về một nền thái bình no ấm, đất nước và vương triều đều phát triển thịnh vượng.

Điện Thái Hoà được xây theo kiểu“nhà kép”, kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, (mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà), nhà trước và nhà sau của điện nằm trên một mặt nền và được nối với nhau bằng một hệ thống trần vòm mai cua (thuật ngữ kiến trúc gọi là “máng thừa lưu”). Chính trần mai cua này nối với nửa trong tạo ra một không gian nội thất liên tục, thống nhất, rộng rãi, không còn cảm giác ghép nối hai tòa nhà. Toàn bộ hệ thống sườn nhà của ngôi điện được làm bằng gỗ lim, nổi bật là 80 cột gỗ lim được sơn thếp vàng và trang trí hình rồng vờn mây nước “Long vân thủy ba”.

Tất cả các cột được đặt trên bệ đá khắc đẽo hình hoa sen, có chức năng chống ẩm từ nền điện. Hệ thống vì kèo, rường cột, xuyên trến ở đây đều liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng mẹo tạo sự vững chắc cho ngôi điện. Chữ Hán trên điện Thái Hòa được phân bố tại nhiều vị trí trên tất cả 297 ô hộc ở trong và ngoài. Ở ngoại thất điện, thơ được viết trên các tấm pháp lam tại các vị trí bờ nóc, cổ diêm thuộc phần mái; chạm khắc trên liên ba thuộc phần hiên ở cả hai phần tiền điện và hậu điện. Bên trong nội thất, thơ được chạm khắc trên liên ba bằng gỗ, trên các vách ở cả hai phần tiền điện và hậu điện. Nội dung của các bài thơ thể hiện tư tưởng của các vị vua triều Nguyễn: ca ngợi về lịch sử, văn hiến đất nước, thống nhất giang sơn, triều đại thịnh trị…Bản thân điện Thái Hòa và không gian tồn tại của nó là nơi tổ chức các lễ triều nghi như: (lễ Đăng Quang, lễ Vạn thọ, lễ Hưng Quốc khánh niệm… của triều Nguyễn), nơi đặt ngai vua, biểu tượng cao nhất của nhà nước quân chủ. Do đó cũng có thể ví ngôi điện này như một bộ mặt hành chính của triều Nguyễn, đó là nơi giao tiếp chính thức của triều đình trong đối nội cũng như đối ngoại, đó cũng là nơi biểu hiện cao nhất, rõ ràng nhất tính chất trật tự , tôn ti xã hội. Do đó cũng có thể cho rằng, thơ văn chạm khắc trên điện Thái Hòa vừa thực hiện chức năng trang trí, vừa thực hiện ( chức năng giao tiếp): giao tiếp giữa vua và quần thần; giao tiếp giữa triều đình với hệ thống quan lại; giao tiếp giữa triều thần và các nước và rộng hơn là giao tiếp giữa thế hệ này với thế hệ khác. Hệ thống trang trí thơ văn của điện Thái Hòa cùng các cung điện của cung đình Huế là loại hình nghệ thuật trang trí độc đáo không thấy xuất hiện ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới vì vậy hệ thống thơ văn này đã được UNESCO vinh danh là “Di sản Tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” vào ngày 19/5/2016.

Tiêu biểu nhất là bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt được chạm khắc ngay dưới bức hoành phi “Thái Hòa Điện”, đây có thể được xem như lời tuyên ngôn của triều Nguyễn về độc lập, về tinh thần dân tộc của người dân Việt Nam. “Văn hiến thiên niên quốc Xa thư vạn lý đồ Hồng Bàng khai tịch hậu Nam phục nhất Đường Ngu”. Tạm dịch: ( Nước ngàn năm văn hiến / Mở rộng quy mô xưa /Từ Hồng Bàng mở cõi / Phương Nam một Đường Ngu).

NGAI VÀNG VÀ BỬU TÁN

Ngai vàng: Ngai vàng của vua là một trong những vật dụng không thể thiếu của mỗi triều đại quân chủ ở mọi nơi trên thế giới. Ngai vàng là biểu tượng quyền lực của triều đại. Trong số các triều đại quân chủ đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam, triều Nguyễn là triều đại cuối cùng, cũng là triều đại duy nhất để lại ngai vua còn nguyên vẹn đến nay. Ngai vàng được đặt giữa điện Thái Hòa trên bệ cao 03 tầng ( biểu tượng của Tam Tài ). Ngai vua cao 101 cm, rộng 72 cm và dài 87 cm. Phần đế cao 20cm, rộng 90 cm và dài 118 cm. Ngai được làm bằng gỗ quý sơn son thếp vàng, khắc chạm hình ảnh rồng. Rồng mang ý nghĩa cầu phúc, cầu thọ, cầu may mắn… Đây là chiếc ngai vàng duy nhất còn lại ở Việt Nam, là bảo vật độc bản có tầm quan trọng to lớn, mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật đặc sắc. Đó là những lý do chiếc ngai vàng này được xếp vào danh mục bảo vật quốc gia Việt Nam vào năm 2015.

Bửu tán: (Là cái lọng, tán che quý báu) che trên ngai vua. Dưới thời Gia Long bửu tán được làm bằng vải gấm. Năm 1923 để chuẩn bị cho lễ “Tứ tuần đại khánh”của vua Khải Định, triều đình cho làm bửu tán bằng gỗ và thếp vàng che phía trên chiếc ngai. Bửu tán làm bằng gỗ thếp vàng, các mặt chạm lộng hình 02 con rồng chầu mặt vào nhau miệng ngậm chữ “Thọ”; 04 góc chạm hình đầu rồng nhô cao; xung quanh và các góc tạo hình các tua rủ uyển chuyển mềm mại. Ở phần trang trí phía ngoài cùng, 04 cột xung quanh gian đặt ngai vàng được nối với nhau bằng lớp diềm trang trí đồ án “Long vân”, mặt rồng chính diện được chạm lộng, thếp vàng. Người làm bức bửu tán này là nghệ nhân Nguyễn Văn Khả và đã được vua Khải Định ban chức“Hàn lâm kiểm thảo”, thường gọi là Kiểm Khả.

SA BÀN ĐẠI NỘI

Sa bàn 01 thể hiện một đoạn phía trước mặt Nam của Kinh thành (Nghinh Lương Đình: Vua cùng hoàng gia hóng mát sông Hương, Phu Văn Lâu: nơi niêm yết chiếu chỉ của nhà vua, Kỳ Đài).

Sa bàn thứ 02 là mô hình thu nhỏ của Đại Nội (Hoàng thành và Tử cấm thành). Do nhiều nguyên nhân của lịch sử, chiến tranh, thời gian và sự khắc nghiệt của thiên nhiên …diện mạo và quy mô của kinh đô Huế không còn được nguyên vẹn như thuở ban đầu. Từ năm 1975 đến nay, với sự chỉ đạo của chính phủ Việt Nam, sự giúp đỡ của tổ chức Uniesco, sự nổ lực của chính quyền địa phương , đặc biệt là cơ quan chủ quản Trung tâm BTBTDT cố đô Huế, các công trình kiến trúc của triều Nguyễn đã và đang được trùng tu ngày càng hoàn thiện hơn . Vòng thành thứ nhất nằm bên ngoài của sa bàn là Hoàng thành, là khu vực hành chính của triều đình nhà Nguyễn, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng của triều đình và bảo vệ Tử Cấm Thành.

Hoàng thành có 04 cổng ra vào, cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn dành riêng cho nhà vua ra vào, phía Đông có cửa Hiển Nhơn dành cho các quan văn võ ra vào, phía Tây có cửa Chương Đức dành cho các bà (phụ nữ) ra vào, phía Bắc có cửa Hòa Bình để nhà vua ra ngắm cảnh hồ Tịnh Tâm hoặc tới trường đua ngựa,…Hoàng Thành có diện tích 36 ha và có hơn 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ, Hoàng Thành được phân bổ theo 03 trục chính:

Trục chính giữa: là trục dũng đạo (nằm chính giữa), gồm các công trình chính yếu dùng để tổ chức lễ triều nghi, nơi làm việc và sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia như: Cửa Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Điện Cần Chánh, Điện Càn Thành, Cung Khôn Thái, Lầu Kiến trung…

– Trục thứ 02: (nằm ở phía Đông), là khu vực có miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái miếu – Triệu miếu), nơi chế tác và cất giữ báu vật ( Phủ Nội Vụ), khu vườn ngự Cơ Hạ….

– Trục thứ 03: (nằm ở phía Tây), là khu vực có miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (Hưng Miếu), miếu thờ các vị vua Nguyễn (Thế Miếu, Điện Phụng Tiên), nơi ở của mẹ vua và bà nội vua (cung Diên Thọ, cung Trường Sanh).

Vòng thành thứ 02 của sa bàn là Tử Cấm Thành, diện tích của Tử cấm thành hơn 9 ha, mặt Đông – Tây dài 308m, mặt Nam – Bắc dài 341m. Đây là khu vực quan trọng, trung tâm sinh hoạt hằng ngày của vua và gia đình. Trong Tử Cấm Thành có gần 50 công trình kiến trúc, các công trình chính yếu như: điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái(chỗ ở của Hoàng Quý Phi), lầu Kiến Trung (là nơi ở của vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương cùng các con),Thái Bình Lâu (nhà đọc sách),Tam cung- Lục viện (nơi ở các bà cung phi, mỹ nữ). Ngoài ra còn có các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như: Thượng Thiện Đường ( nấu ăn ), vườn ngự Thiệu Phương, nhà hát Duyệt Thị Đường…

TỬ CẤM THÀNH

Tử Cấm Thành là vòng thành thứ 03 nằm bên trong Hoàng Thành. Tử Cấm Thành là khu vực sinh hoạt dành riêng cho vua và hoàng gia. Tử Cấm Thành có 10 cửa ra vào, trong đó quan trọng nhất là Đại Cung Môn nằm ở mặt Nam (mặt Đông nguyên có 04 cửa nay chỉ còn 03 là: Duyệt Thị, Cấm Uyển, Hưng Khánh; mặt Bắc có 03 cửa: Văn Phòng, Tường Loan, Nghi Phụng; mặt Tây có 02 cửa: Tây An và Gia Tường. Chu vi của vòng tường Tử Cấm Thành là 1,300m. Trong đó chiều dài mặt Nam là 342m, mặt Bắc là 341m, mặt Đông là 308m và mặt Tây là 307m. Theo điển tích của Nho Giáo, chỗ ở của Ngọc Hoàng thượng đế và Nương Nương ở trên trời là Tử Vi cung.

Vua là thiên tử con của trời vâng mệnh trời cai trị dân gian nên chỗ ở của vua gọi là Tử Cấm Thành, hay còn có nghĩa ( thành cấm màu tía). Bên trong Tử Cấm thành có khoảng 50 công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau được phân chia làm nhiều khu vực, tổng số công trình đó biến động qua các thời kỳ lịch sử.

Đại Cung Môn: Cửa Đại Cung là cửa quan trọng nhất của khu vực Tử Cấm Thành, nằm ở hướng Nam. Cửa rộng 05 gian, mái lợp ngói hoàng lưu ly. Kết cấu Đại Cung môn gồm 24 cột gỗ, phần dưới chân các cột đều có đặt đế trụ bằng đá. Mặt trước treo bức hoành phi đề ba chữ: “ Đại Cung Môn”, mặt có bức tấm hoành phi đề ba chữ: “Càn Thành Cung”, cửa do cấm y vệ quân canh gác nghiêm ngặt đêm ngày để bảo vệ vua cùng hoàng gia. Vào những ngày triều đình có các cuộc lễ lớn hay buổi lễ thiết đại triều, thì cửa Đại Cung Môn là nơi đặt các loại nghi vệ, nghi trượng, kiệu vua cùng các quan văn võ và quân lính chờ bên ngoài để rước nhà vua từ điện Cần Chánh hoặc cung Càn Thành đến nơi làm lễ.

Công trình kiến trúc của Đại Cung Môn đã bị hư hỏng hoàn toàn, nay chỉ còn duy nhất phần nền móng.

– Tả Vu và Hữu Vu: là hai công trình xây dựng đầu thế kỷ 19. Tả Vu là toà nhà dành cho quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho quan võ có phẩm hàm từ nhất phẩm đến tứ phẩm, chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều; là nơi làm việc của Cơ Mật Viện; nơi tổ chức thi đình và tổ chức yến tiệc. Công trình đã từng được tu sửa 02 lần vào năm Thành Thái thứ 10 (1898). Đến năm 1923 nhân dịp chuẩn bị cho lễ “Tứ Tuần Đại Khánh” của vua Khải Định, nhà Tả vu Hữu vu một lần nữa được tu sửa và có quy mô, hình dáng kiến trúc như ngày ngày nay.

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1988, hai công trình đã được các chuyên gia Ba Lan hỗ trợ phục hồi phần mái và gia cố một phần nhằm bảo vệ các họa tiết còn sót lại. Năm 2013 dự án bảo tồn và tu sửa công trình Tả vu Hữu vu với sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao CHLB Đức, các bức tranh tường và trần tòa nhà đã được phục hồi hoàn chỉnh, trả lại diện mạo cho công trình. Hiện nay công trình nhà Tả vu dùng để tổ chức trưng bày chuyên đề về Nhã nhạc cung đình và triển lãm về di sản văn hóa Huế. Nhà Hữu vu tổ chức một số dịch vụ trãi nghiệm văn hóa cung đình xưa. Đây là xu hướng tích cực trong việc phát triển và quảng bá du lịch.

VẠC ĐỒNG

Theo sử sách, trong thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, đã chia cắt Đàng trong và Đàng ngoài trên 200 năm, mỗi khi chúa Nguyễn chiến thắng chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều cho đúc vạc đồng để kỷ niệm. Mục đích của các vị chúa Nguyễn khi cho đúc những chiếc vạc đồng này là để biểu dương uy quyền vàsự bền vững của triều đại, đánh dấu những chiến thắng với quân Trịnh trong công cuộc mở mang lãnh thổ về phía Nam.

Từ năm 1631 đến năm 1684 các vị chúa Nguyễn đã cho đúc tất cả là 11 cái vạc đồng và đặt tại các phủ của chúa ở Phước Yên (1626-1636) và Kim Long (1636-1687), chứ chưa đem về Phú Xuân. Hiện nay, 11 cái vạc này (07 cái đặt tại Hoàng cung, 03 cái đặt tại Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế, một cái đặt ở lăng vua Đồng Khánh). Tất cả những vạc đồng này có kích thước to lớn, từ vài trăm đến vài ngàn cân. Tác giả của những cái vạc này là ông Jaoz da Cruz (ông là người Bồ Đào Nha, lấy vợ nguời Việt Nam và sống tại Phường Đúc- Huế), ông là người cố vấn cho các nghệ nhân và giúp chúa Nguyễn đúc vũ khí và vạc đồng để tỏ rõ uy quyền của dòng họ Nguyễn. Trong số đó 02 chiếc vạc to nhất, nặng nhất được trang trí đẹp nhất, không chỉ của nhà Nguyễn mà của Việt Nam còn lại đến ngày nay được đặt trước sân của ngôi điện Cần Chánh.

Hai vạc đồng này đều được đúc dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648- 1687); vạc đồng bên trái đúc năm 1660, nặng 1.552 kg ; vạc đồng bên phải đúc năm 1662, nặng 1.489 kg. Hình dáng và kiến trúc của hai vạc rất giống nhau, đều có quai, chiều cao 1m và đường kính miệng rộng 1,2m. Thân vạc được chia thành 60 ô hộc chữ nhật bằng nhau ngăn cách bởi các nhóm vạch thắng đứng, mỗi ô đều chạm khắc một cách công phu các hình ảnh hoa văn như: các vì tinh tú, hoa lá, chim thú…

ĐIỆN CẦN CHÁNH

Điện Cần Chánh là công trình kiến trúc bằng gỗ có qui mô lớn và giữ vai trò quan trọng trong Tử Cấm Thành. Điện được xây dựng vào tháng 4 năm 1804 và hoàn tất vào năm 180.Trải qua 143 năm trị vì (1802 – 1945), 13 vị vua triều Nguyễn đều làm việc tại tòa nhà này. Tên Cần Chánh (có nghĩa là: cần mẫn công việc chánh sự, hàm ý nhắc nhở các vị vua không được sao nhãng việc nước). Kiến trúc chính điện kết cấu 05 gian và 02 chái kép, tiền điện có 07 gian và 02 chái đơn. Hệ thống vì kéo giả thủ và con xơn được chạm chỗ công phu và tinh tế.

Chức năng chính của điện Cần Chánh là nơi:

– Tổ chức lễ thường triều mỗi tháng 04 lần vào các ngày 05, 10, 20 và 25 âm lịch.

– Diễn ra lễ Phất thức vào một ngày hạ tuần của tháng Chạp âm lịch hàng năm (từ thời vua Minh Mạng đến đời Bảo Đại). Tại đây cũng thường diễn ra các buổi yến tiệc và ca múa trong những dịp khánh hỷ của quốc gia và hoàng gia. Dưới thời vua Bảo Đại, lễ tấn phong Nam Phương Hoàng hậu đã được tổ chức long trọng ở ngôi điện này. Rất tiếc, điện Cần Chánh đã bị phá hủy trong cơn binh lửa tháng 02 năm 1947. Hiện nay ngôi điện này chỉ còn lại phần nền móng. Đánh giá chung về cả nghệ thuật kiến trúc, trang trí nội thất và sự bài trí các hiện vật của điện Cần Chánh, sử sách triều Nguyễn đã miêu tả: đây là ngôi điện đẹp nhất trong Tử Cấm Thành, là công trình kiến trúc hoành tráng và là một kiệt tác kiến trúc nghệ thuật cung đình mang đậm bản sắc dân tộc của cố đô Huế.

Trong những năm qua, Trung tâm BTDT cố đô Huế đã tiến hành nhiều đợt kêu gọi sự ủng hộ về mặt vật chất và sự ủng hộ nghiên cứu của Chính phủ cũng như các tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng dự án phục hồi ngôi điện Cần Chánh trong tương lai.

TRƯỜNG LANG

Loại hình kiến trúc Lang được các kiến trúc sư nhà Nguyễn áp dụng rất phổ biến trong hệ thống kiến trúc Hoàng cung, trong các vườn Ngự, các biệt cung… Kiến trúc Lang dưới triều Nguyễn có hình thức kết cấu khá phong phú mặc dù vẫn giữ nguyên chức năng nguyên thủy là nối kết giữa các công trình kiến trúc chính.

Chính hệ thống hành lang này đã tạo nên kiến trúc “Vạn Tự Hồi Lang” nổi tiếng ở vườn Thiệu Phương (nằm ở phía Đông của Tử Cấm Thành), hay “Vương Tự Điện” độc đáo trong cung Trường Sanh (nằm phía Tây Bắc của Hoàng Thành) và “Tứ Phương Ninh Mật Hồi Lang” rất đặc biệt ở vườn Cơ Hạ ( nằm ở phía Đông của Hoàng Thành)….

Hệ thống hành lang trong Tử Cấm Thành triều Nguyễn là kiểu hàng lang có mái che và có các dạng thức sau: (Trường Lang, Dực Lang, Hồi Lang và Trực Lang).

– Trường Lang: là tên gọi chung của các loại hành lang dài, nối thông giữa các khu vực với nhau.

– Dực Lang: là loại hành lang nằm bên cánh các công trình, nối hai công trình không nằm cùng trên một trục, hay một tuyến. – Trực Lang: là loại hành lang ngắn nối liền giữa các công trình.

– Hồi lang: Là loại hành lang gấp khúc gắn kết với các công trình, như hành lang hình chữ “Khẩu”, hình chữ “Vạn”, chữ “Vương”. Tuy chỉ là một dạng công trình mang tính phụ trợ trong toàn bộ quần thể kiến trúc, nhưng ở vào thời đại của các vua triều Nguyễn theo các tư liệu còn lưu giữ lại, ở trên chính những đoạn hành lang này đã từng diễn ra rất nhiều cuộc đón tiếp long trọng, những buổi dạo chơi hay ngâm vịnh mang đậm nét văn hóa cung đình. Và ý nghĩa quan trọng nhất của công trình này chính là vai trò cầu nối cho những nhu cầu sinh hoạt thiết thực nhất trong đời sống cung đình nói riêng và đời sống xã hội nói chung.

Thời xưa khi các bậc vua chúa sinh sống và làm việc trong Tử Cấm Thành, khi vua đi đến vấn an Hoàng Thái Hậu, hay dạo mát, hoặc di chuyển từ điện này sang điện khác…, thì những hệ thống hành lang này đã giữ một vị trí quan trọng, nó che nắng, che mưa cho con người và góp phần tăng thêm sự uy nghiêm cho nghi vệ triều đình. Hiện nay trên các hệ thống hành lang của Tử Cấm Thành treo các tư liệu quý như: một số bức ảnh của các vị vua nhà Nguyễn, hình ảnh tư liệu về kiến trúc của các cung điện và thông tin về lịch sử chủ quyền của quốc gia. Đặc biệt là những hình ảnh tư liệu trong công cuộc bảo tồn các di tích nằm trong quần thể di tích cố đô Huế, nhằm giúp du khách hiểu thêm về triều Nguyễn một cách toàn diện hơn.

ĐIỆN CÀN THÀNH

Điện Càn Thành là ngôi điện quan trọng bậc nhất trong Tử Cấm Thành , nơi đặt long sàn để nhà vua nghĩ ngơi. Điện Càn Thành nguyên xưa có tên gọi là điện Trung Hòa, được xây dựng vào thời Vua Gia Long, năm 1810. Về chức năng điện Càn Thành là nơi vua ở và nghĩ ngơi, nói đến cung điện này là nói đến đời sống riêng tư của các vị vua nhà Nguyễn, cũng như mối quan hệ giữa nhà vua với cung tần mỹ nữ trong cung. Nhưng dưới triều Nguyễn tất cả những vấn đề trên không được phép ghi laị nhiều trong sử sách, vì vậy nó trở thành chuyện “thâm cung bí sử” và là một ẩn số cho đến ngày hôm nay.

Từ những bí ẩn đó, trong dân gian đã thêu dệt nên thành nhiều câu chuyện huyền bí về cung điện quan trọng bậc nhất này trong Tử Cấm Thành và đời sống của các vị vua Nguyễn. Ví dụ giới quý tộc và các quan chức cũ của triều Nguyễn thường truyền miệng câu chuyện rằng: Hằng đêm ở điện Càn Thành nhen lên một lò lửa thật lớn, đúng giờ quy định các phi tần cung nữ mang lồng ấp đựng than đến điện Càn Thành để lấy lửa và nhóm vào lồng ấp của mình, sau đó đem về phòng ở của mình, như ngụ ý là vua ban hơi ấm cho mọi bề tôi nhất là nữ giới trong hậu cung.

Hiện nay ngôi điện Cần Chánh chỉ còn là một phế tích do bị ảnh hưởng của chiến tranh. Cùng với điện Cần chánh, điện Càn Thành sau khi được phục hồi thành công sẽ góp phần khẳng định công nghệ trùng tu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã vươn đến tầm cao mới bởi, những cung điện này là những công trình vừa đồ sộ, vừa tinh xảo bậc nhất hoàng cung Huế trong lịch sử. Đồng thời là những công trình chứa đựng những giá trị văn hóa lịch sử sâu sắc của vương triều Nguyễn suốt gần 150 năm.

THUYẾT MINH CUNG KHÔN THÁI

Cung Khôn Thái là một trong ba cung điện được triều đình nhà Nguyễn xây dựng nhằm phục vụ cho việc ăn ở, sinh hoạt của các bà Hoàng Hậu. Về kết cấu kiến trúc, cung Khôn Thái với điện chính là Cao Minh Trung Chính mang phong cách, đặc điểm của kết cấu kiểu cung đình Huế.

Đây là cung điện giành cho nữ giới duy nhất nằm trên trục chính của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, (nằm ngay sau lưng của cung Càn Thành), thể hiện được tư tưởng đạo lý sinh hoạt của người Việt nam, vợ luôn luôn là người bên cạnh chồng, giúp chồng quản lý mọi việc trong gia đình. Gia đình hoàng gia cũng vậy, mặc dù vua có rất nhiều cung tần mỹ nữ trong cung điện nhưng vẫn có một người vợ chính thức nhằm quản lý đại gia đình hoàng gia ấy.

Ban đầu chức năng chính của tòa cung điện này được ghi rõ trong chính sử nhà Nguyễn, là nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng Quý Phi, chứ không phải là Hoàng Hậu như các triều đại khác của Việt Nam. Trong quá trình tồn tại 143 năm của triều đại nhà Nguyễn thì chỉ có 02 vị Hoàng Hậu được sách lập khi vẫn đang còn sống, đó là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long) và Nam Phương Hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại), còn lại các bà vợ vua khác chỉ được phong làm Hoàng hậu khi họ đã mất. Từ khi được xây dựng, cung Khôn Thái cũng đã được sửa chữa nhiều lần vào thời kỳ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và chính thực bị triệt hạ vào thời Bảo Đại sau khi vua Bảo Đại chọn lầu Kiến Trung là nơi ăn ở và sinh hoạt cho cả gia đình của mình. Hiện nay cung Khôn Thái cũng chỉ còn là một phế tích nằm trong khu vực Tử Cấm Thành.

TAM CUNG – LỤC VIỆN

– Tam cung: Là tên gọi của 03 cung

+ Cung Khôn Thái: nơi ở của Hoàng Quý Phi (vợ vua)

+ Cung Diên Thọ: nơi ở của Hoàng Thái Hậu (mẹ vua)

+ Cung Trường Sanh: nơi ở của Thái Hoàng Thái Hậu ( Bà nội vua)

– Lục viện: là tên gọi của 06 dãy nhà: Đoan Huy, Đoan Hòa, Đoan Trang, Đoan Trinh, Đoan Thuận và Thuận Huy: là nơi ở và sinh hoạt của các phi tần (nằm ở phía Tây của Tử Cấm thành).

THUYẾT MINH ĐIỆN KIẾN TRUNG

Điện Kiến Trung là tòa cung điện được xây dựng muộn nhất trong Hoàng cung, là công trình được xây dựng vào năm 1923 dưới thời vua Khải Định, là 01 trong 05 công trình lớn nằm ở điểm cuối cực Bắc của trục dũng đạo xuyên qua trung tâm của Tử Cấm Thành. Đây là nơi làm việc và sinh hoạt của hai vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, là vua Khải Định và vua Bảo Đại. Nguyên tại địa điểm này, trước đây đã từng có hai công trình, đó là lầu Minh Viễn, rồi đến lầu Du Cửu.

Lầu Minh Viễn được xây dựng vào năm 1827 dưới thời vua Minh Mạng, đây là tòa nhà làm bằng gỗ khá to lớn, gồm có 03 tầng, cao 15,80m so với mặt đất, là nơi thỉnh thoảng nhà vua lên ngắm cảnh và hóng mát. Qua thời vua Thiệu Trị, vua đã cho trùng tu lầu Minh Viễn và cho đặt trên nóc tòa nhà một viên dạ minh châu đêm đêm tỏa sáng, lầu Minh Viễn đã được vua Thiệu Trị xếp là đệ nhất cảnh trong “Thần Kinh nhị thập cảnh” (20 mươi thắng cảnh của đất Thần Kinh).

Tuy nhiên, công trình kiến trúc này đã bị triệt giải dưới thời vua Tự Đức, có lẽ vì nó đã bị xuống cấp trầm trọng sau gần nửa thế kỷ tồn tại; và nhất là lúc bấy giờ Nam triều đang gặp phải nhiều khó khăn về các mặt, đặc biệt là về tài chính do cuộc xâm lược của Pháp gây ra. Vào năm 1913 vua Duy Tân đã cho xây dựng lên trên nền cũ tòa nhà này một tòa lầu khác theo kiểu mới và đặt tên là lầu Du Cửu. Tòa lầu mới này chỉ có 02 tầng với kiến trúc tương đối đơn giản.

Sau khi lên ngôi vào năm 1916, vua Khải Định đã đổi tên lầu Du Cửu thành điện Kiến Trung, từ năm 1921 đến năm 1923 vua đã cho xây dựng lại điện Kiến Trung hoàn toàn mới, với kiểu thức là hợp thể phong cách giữa Á và Âu, bao gồm kiến trúc Pháp, kiến trúc phục hưng của Ý cùng pha thêm kiến trúc cổ truyền Việt Nam.

Dưới thời Khải Định (1916 – 1925), phần lớn do chủ quyền của Việt Nam đều đã rơi hẳn vào tay thực dân Pháp và nền văn hóa phương tây đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào nước ta. Đặc biệt vào năm 1922 chính vua Khải Định cũng đã có một chuyến du hành qua Châu Âu, do đó phần lớn các công trình kiến trúc được cải tạo hoặc xây mới dưới thời vị vua này đều có nhiều yếu tố hiện đại và kỹ thuật xây dựng tân thời xâm nhập vào.

Thay cho vật liệu xây dựng truyền thống chủ yếu của địa phương như: gỗ, đá, gạch và vôi vữa… thì vua Khải Định lại thích dùng các loại vật liệu kiên cố như: xi măng, sắt thép, mảnh sứ, thủy tinh… Ở lăng tẩm và cung điện của vua lúc bấy giờ, đã sử dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại như: đèn điện, nước máy, vòi phun nước, cột thu lôi, cửa sắt… và tất nhiên trong cách trang trí của thời kỳ này còn có sự kết hợp giữa các đề tài điêu khắc và hội họa của Đông phương và Tây phương. Sau khi vua Khải Định băng hà, vua Bảo Đại đã cho tu sửa lại cung điện, lắp đặt thêm các tiện nghi Tây phương. Từ đó điện Kiến Trung trở thành nơi ăn ở chung của cả gia đình nhà vua, bao gồm: Vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương, Hoàng tử Bảo Long, Hoàng Nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và Hoàng Tử Bảo Thăng.

Ngày 29/08/1945, điện Kiến Trung trở thành chứng nhân của sự kiện vua Bảo Đại có cuộc tiếp xúc đầu tiên với phái đoàn Chính phủ lâm thời để chính thức họp bàn thoái vị, trao lại quyền điều hành đất nước cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Đến năm 1947, điện Kiến Trung bị sụp đổ hoàn toàn, nay chỉ còn lại nền móng.

Trong“Dự án qui hoạch bảo tồn và phát huy và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010- 2020”, điện Kiến Trung đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt phục hồi. Ngày 16/02/2019, Trung tâm BTDT cố đô Huế (là đơn vị được giao tổ chức thực hiện) đã khởi công dự án tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích điện Kiến Trung, tổng mức kinh phí đầu tư trên 123 tỷ đồng.

Quy mô đầu tư xây dựng bao gồm toàn bộ các hạng mục công trình trong khuôn viên điện Kiến Trung. Đặc biệt là hạng mục trùng tu lầu Kiến Trung 02 tầng, chiều cao khoảng 14m,diện tích xây dựng khoảng 975m2. Dự kiến, dự án sẽ được hoàn thành vào năm 2022.

NHẬT THÀNH LÂU

Công trình này được xây dựng vào năm 1841 dưới thời vua Thiệu trị, là nơi nhà vua tĩnh tâm. Dưới thời vua Đồng Khánh do nhiều biến động trong nội bộ triều đình, Nhật Thành Lâu lại trở thành nơi sinh hoạt tâm linh, thờ Thánh Mẫu của nhà vua. Tuy nhiên công trình này bị hư hỏng một phần dưới thời vua Thành Thái và vua Duy Tân. Đến năm 1922, vua Khải Định đã cho tu bổ xây dựng lại Nhật Thành Lâu. Vào thời kỳ cuối nhà Nguyễn, đây là nơi mà đức Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) và các bà trong nội cung thường lui tới để đọc kinh, niệm Phật, cầu an… Năm 1947, do ảnh hưởng sự tàn khốc của chiến tranh, công trình này bị xuống cấp và hư hại nặng. Hiện nay Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô đã và đang trùng tu, phục hồi lại công trình này.

THÁI BÌNH LÂU

Thái Bình Lâu được xây dựng dưới vua Khải Định, từ năm 1919- 1921, là nơi vua nghĩ ngơi thư giản, đọc sách và viết văn làm thơ. Thái Bình Lâu được gọi tắt từ danh xưng: “Thái Bình Ngự LãmThư Lâu”, là tên của một tòa nhà có mô thức kiến trúc tương tự, được vua Đồng Khánh (1886- 1888) cho xây dựng ở bên kia hồ Ngọc Dịch và đã bị triệt giải dưới thời vua Duy Tân (1907- 1916).

Thái Bình Lâu được xây dựng trên nền của công trình có tên Thanh Hà Thư Lâu (là công trình được xây vào năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị, tuy nhiên đã bị triệt giải dưới thời vua Thành Thái). Thái Bình Lâu là một tòa“nhà kép”hai tầng, quay mặt về hướng Đông, hai bên có hai Dực lang tương đối ngắn, ở phía trước sân có bức bình phong, phía sau tòa nhà chính có một bể cạn bên trong đặt hòn non bộ mang giá trị cao về nghệ thuật tạo hình và tạo cảnh.

Thái Bình Lâu có mặt nền cao hơn đất 01m, tiền sảnh có bốn cột xây bằng gạch trát vữa, phía trên mặt tiền có bức hoành phi đắp nổi sành sứ ba chữ “Thái Bình Lâu” và hai bên là bài văn do vua Khải Định ngự chế, nội dung viết về: lịch sử, chức năng và một số thông tin liên quan đến công trình. Phía sau tiền sảnh là chính doanh, đây là tòa nhà 02 tầng cao 9,55m, mái được lợp bằng ngói âm dương tráng men vàng.Hậu doanh có 03 gian 02 chái, mái lợp ngói liệt.

Nét độc đáo nhất và tiêu biểu nhất của công trình Thái Bình Lâu là nghệ thuật trang trí khảm sành sứ và thủy tinh màu đạt đến đỉnh cao, được trang trí phong phú và tinh xảo ở trên các bờ nóc, bờ quyết của công trình. Ngay chính giữa bờ nóc của nhà chính doanh đặt một chữ “Thọ” rất lớn, xung quanh có viền 04 con dơi tượng trưng cho đề tài: Ngũ Phúc. Ở hai đầu bờ nóc đắp 02 hình hồi long vươn cao uy nghi.Tại mỗi góc của hai tầng mái từ trên xuống dưới đều trang trí đề tài: “Tứ Linh” (long, lân, quy, phụng) với màu sắc sặc sỡ cùng dáng vẻ sinh động. Trên các bờ nóc bờ quyết của nhà hậu doanh, phần đầu hồi trang trí đắp nổi đề tài: “Hải Ốc thiêm trù” với hình ảnh ba ông già hỏi thăm nhau và chúc thọ cho nhau.

VƯỜN THIỆU PHƯƠNG

Huế nổi tiếng là thành phố của nhà vườn, tại Kinh đô Huế đã từng có hơn 30 khu vườn Ngự với những phong cách riêng rất đặc sắc, riêng trong Hoàng Thành và Tử Cấm Thành đã có đến 05 khu vườn Ngự (vườn Thiệu Phương, Ngự Viên, vườn Cơ Hạ, Hậu Hồ và cung Trường Ninh), với tổng diện tích gần 90,000m2, tức chiếm đến 1/4 diện tích của Hoàng cung.

Các vua nhà Nguyễn phần lớn đều giỏi thi ca, nhạc họa và rất yêu thích cảnh đẹp thiên nhiên, chính vì vậy mà khi xây dựng Kinh Đô ở Huế, các vị vua đã biết tận dụng địa hình, địa thế, phong cảnh lý tưởng của vùng đất cố đô để xây dựng các công trình kiến trúc kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, nổi bật là hệ thống vườn Ngự. Vườn Thiệu Phương là 01 trong những vườn Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn.Vườn Thiệu Phương được xây dựng vào năm 1828, dưới thời vua Minh Mạng, nằm ở phía Đông bên trong Tử Cấm Thành.

Vườn rộng khoảng 8.000m2, xung quanh vườn có xây tường gạch bao bọc. Vườn nổi tiếng với kiểu kiến trúc “Vạn tự hồi lang”, tức là có hồi lang hình chữ “Vạn” nằm ở giữa vườn dẫn ra 04 phía và ở tại 04 góc của hồi lang này có xây 04 công trình: Nhà ở góc Tây Nam có tên là: Di Nhiên Đường (quay mặt về hướng Nam). Hiên ở góc Đông Nam gọi là Vĩnh Phương Hiên (quay mặt về hướng Đông).Nhà ở góc Đông Bắc là Cẩm Xuân Đường (quay mặt về hướng Bắc).Hiên ở góc Tây Bắc có tên là Hàm Xuân Hiên (quay mặt về hướng Tây).

Trong vườn, ở phía Tây của Vạn Tự Hồi Lang có lạch nước chảy vắt ngang mang tên Ngự Câu thông ra hồ Ngọc Dịch ở phía Bắc, ở trên bờ phía Đông của lạch có đắp một hòn núi nhỏ gọi là Trích Thuý Sơn. Dưới thời vua Thiệu Trị, vào năm 1841, vườn được sửa sang và xây dựng thêm, phía Tây Ngự Câu là điện Hoàng Phúc, phía Nam điện là ngôi đình hình bát giác có tên: “Nhàn Thanh Bát Biểu”; phía Bắc điện có ngôi đình hình vuông (phương đình) tên gọi: “Minh Đạt Tứ Thông”. Phía Bắc của phương đình, gần hồ Ngọc Dịch xây một nhà thuỷ tạ “Lương Đình Điếu Ngự”để vua câu cá và hóng mát, đến năm 1843 ngôi nhà này được làm lại và đổi tên thành Trừng Quang Tạ.

Căn cứ vào các tư liệu của triều Nguyễn, vườn Thiệu Phương là nơi tập hợp nhiều loại hoa thơm cỏ lạ, cây ăn quả của các vùng miền đưa về và là nơi ghi dấu ấn của những bàn tay nghệ nhân tài hoa về xây dựng tạo cảnh nghệ kiến trúc nghệ thuật. Vườn Thiệu Phương đã được vua Thiệu Trị xếp làm thắng cảnh thứ 02 của đất Thần kinh, gắn liền với bài thơ “Vĩnh Thiệu Phương Văn” nổi tiếng. Qua các biến cố thăng trầm của lịch sử, khu vườn dần bị bỏ hoang, thu hẹp. Đến thời vua Khải Định, các công trình chính của vườn đã bị huỷ hoại hoàn toàn và nằm trong tình trạng hoang phế. Bên cạnh đó, các công trình mới xuất hiện cũng làm thay đổi hầu hết kiến trúc xung quanh khu vực di tích này.

Năm 2002, Trung tâm BTDTCĐ Huế phối hợp với Bảo tàng lịch sử Việt nam tiến hành khai quật khảo cổ học, với dự án “Bảo tồn, phục hồi thích nghi vườn Thiệu Phương”, đây là bước đầu khởi động cho việc đánh thức vườn Thiệu Phương sau một thời gian dài hoang phế. Hiện nay diện mạo vườn Thiệu Phong đã được phục hồi. Trong khuôn khổ các hoạt động Festival Huế 2018, Trung tâm BTDT cố đô Huế đã tổ chức “Triễn lãm cây cảnh và phong lan ba miền” trong khu vườn Thiệu Phương, tại đây du khách cơ hội được nhìn thấy những loại cây cảnh quý, được thả mình vào không gian muôn sắc hoa và cây lá, nơi mà xưa kia chỉ dành cho những bậc hoàng gia thưởng ngoạn.

THUYẾT MINH VƯỜN CƠ HẠ

Vườn Cơ Hạ được xem là một kiệt tác của vườn cung đình, tên chữ Cơ Hạ được lấy từ chữ “Vạn Cơ thanh hạ”(Sự thanh nhàn trong muôn vàn cơ sự). Vườn nằm ở phía Đông Bắc của Hoàng Thành, trước giáp với Phủ Nội Vụ, sau giáp Hậu Hồ, hai mặt Đông Tây giáp tường của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Đầu thời vua Gia Long đây là nơi học tập của Thái tử Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng), năm 1837 vườn được vua Minh Mạng cho nâng cấp, mở rộng khuôn viên và gọi là Cơ Hạ Đường, những lúc nhàn hạ vua đến ngắm cảnh.

Dưới thời hai vị vua Thiệu Trị (18411847),Tự Đức (1848 -1883) vườn được trùng tu nâng cấp và bổ sung thêm một số công trình. Vườn Cơ Hạ là một quần thể gồm có: sông hồ, núi động, lầu tạ, cung điện liên hoàn kết hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc và cảnh quanh thiên nhiên. Trong các thắng cảnh thuộc vườn Cơ Hạ, có 03 thắng cảnh được đề vịnh trong thơ của vua Thiệu Trị, như: sông Tái Vũ, hồ Minh Giám và động Phước Duyên.

Trãi qua nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử cũng như về cuối triều Nguyễn do không có điều kiện chăm sóc, từ đó vườn Cơ Hạ rơi vào tình trạng hoang phế và trôi vào quên lãng. Từ năm 2012 đến nay, Trung tâm BTDT cố đô Huế đã đầu tư, sửa sang tạo sinh khí cho khu vườn, dựng 03 ngôi nhà rường truyền thống, cầu Kim Nghê được dựng lại bằng tre nứa buộc lạt mây, nạo vét sông hồ để trồng hoa sen, hoa súng và thả cá chép vàng … Đặc biệt đầu tư hàng trăm chậu cây kiểng tuyệt đẹp trang trí trong khu vườn, làm cho du khách đến thăm vườn Cơ Hạ hôm nay có thể vô ưu thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên, cũng như ngắm hàng trăm cây cảnh quý của các nghệ nhân hàng đầu xứ Huế.

Trong Festival Huế 2018, vườn Cơ Hạ là nơi được tổ chức “Triễn lãm cây kiểng và phong lan ba miền”, đây là dịp để Trung tâm BTDT cố đô Huế giới thiệu đến công chúng sự hiện diện của Cơ Hạ Viên trong lịch sử.

NGỰ VIÊN

Ngự Viên nằm ở phía Đông Bắc trong khu vực của Tử Cấm Thành. Vườn được xây dựng đầu thời vua Minh Mạng, năm 1820. Các công trình kiến trúc trong khu vườn được kiến tạo rất cầu kỳ như: điện Thiên Thân, đình Vọng Hà, hồ Ngọc Dịch, núi Tú Nhuận, tiểu Ngự Hà…Ngự Viên được xem như là một vườn hoa trong cung cấm, nơi các vị vua Nguyễn thường đến dạo chơi, thư giản làm thơ…Ngự Viên được vua Thiệu Trị xếp làm thắng ảnh thứ 05 của vùng đất Cố đô và đã được ca ngợi trong bài thơ “ Ngự Viên đức nguyệt” (Ngự viên ngắm trăng). Tuy nhiên, dưới thời vua Thành Thái (1889-1907) trở về sau, kiến trúc của Ngự viên đã có nhiều thay đổi, phần lớn công trình bị triệt giải, cảnh quan không được chú trọng. Vào năm 1932, dưới thời vua Bảo Đại tòa nhà Ngự Tiền văn phòng hai tầng được xây dựng tại nơi đây, lầu Ngự Tiền văn phòng trở thành cơ quan thay cho Nội Các của thời vua Minh Mạng.

THUYẾT MINH DUYỆT THỊ ĐƯỜNG

Duyệt Thị Đường là 01 trong 04 nhà hát được xây dựng dưới thời các vua Nguyễn, bao gồm: Duyệt Thị Đường, nhà hát Tịnh Quan Viên, nhà hát Minh Khiêm Đường và nhà hát Cửu Tư Đài.

Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm 1826, dưới thời vua Minh Mạng và trở thành nhà hát cổ nhất của Việt Nam còn tồn tại cho đến hôm nay. Nhà hát này được dùng để tấu nhạc cung đình ,diễn tuồng và múa cung đình để phục vụ vua cùng hoàng gia, các đình thần và những thượng khách nước ngoài có liên hệ ngoại giao. (Tên gọi Duyệt Thị Đường được hiểu là: một ngôi nhà dành để xem biểu diễn nghệ thuật để từ đó con người chiêm nghiệm những điều hay lẽ phải).

Tổng diện tích khuôn viên của nhà hát Duyệt Thị Đường là 11,740m2, là một thể kiến trúc đồ sộ, bao gồm nhiều chức năng khác nhau nhằm phục vụ cho những sinh hoạt thiết yếu của vua và hoàng gia, như: Thái Y viện nằm ở phía Đông Nam (nơi làm việc của các thầy thuốc sao chế thuốc chữa bệnh cho nhà vua và hoàng gia), sở Thượng Thiện nằm ở Đông Bắc (nơi chế biến các món ăn phục vụ nhà vua). Riêng tòa nhà hát thì được xây trên diện tích hình chữ nhật rộng rãi 1,182m2, mặt xoay về hướng Đông, mái nhà được lợp ngói âm dương, với những bờ quyết cong như những đình chùa ở Huế. Nội thất của nhà hát được sơn sơn thếp vàng, trung tâm là hai hàng cột gỗ lim có chiều cao 12m, xung quanh ba mặt Đông, Tây, Nam chia làm hai tầng có lan can che chắn.

Trên trần nhà hát được trang trí chạm nổi hình ảnh: mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú tượng trưng cho vũ trụ thu nhỏ. Sân khấu chính là nơi biểu diễn ở giữa nhà hát, phía trên có một khám thờ để thờ tổ sư nghề hát bội, hai bên khám có treo hai câu đối bằng chữ Hán của vua Minh Mạng:

“ Âm nhạc tinh trần hòa kỳ tam dĩ dưỡng kỳ chí. Nghiêng suy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”
Dịch nghĩa:

“ Âm nhạc cũng phô bày, hòa lòng người để nuôi dưỡng chí khí Thiện ác đồng trình diện, khiến giữ được cái tốt mà giới hạn cái xấu”.


Nơi cao nhất của sân khấu treo bức hoành phi đề ba chữ “Duyệt Thị Đường”. Hình thức sân khấu nhà hát được xây dựng kiểu sân khấu có ba mặt, nét đặc trưng của nghệ thuật sân khấu trình diễn. Phía sau sân khấu là hậu trường nơi dành cho diễn viên thay trang phục và để đạo cụ biểu diễn. Sau năm 1945 Duyệt Thị Đường bị bỏ trống, sau đó trong những năm chiến tranh, cùng với các công trình khác trong Tử Cấm Thành, nhà hát Duyệt Thị Đường bị tàn phá nặng nề. Trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, chính quyền miền Nam Cộng Hòa đã dùng Duyệt Thị Đường làm nơi giảng dạy của trường Quốc gia Âm nhạc Huế (ngày nay là trường Đại Học Nghệ Thuật Huế), nhiều công trình của nhà hát bị phá bỏ, cấu trúc nhà hát bị thay đổi, về sau Bộ Văn hoá đã dời trường đến một vị trí khác.

Từ năm 1995 với sự trợ giúp một phần về kinh phí và chuyên môn của tổ chức Codev Việt- Pháp, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã tổ chức trùng tu nhà hát như diện mạo của nó từ năm 1962 theo nguyên tắc bảo tồn thích nghi để phát huy tác dụng vào việc biểu diễn ca, múa, nhạc, tuồng truyền thống phục vụ du khách. Đặc biệt từ sau năm 2003, Nhã nhạc Cung đình Huế được vinh danh là “Di sản Phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” thì Nhà hát Duyệt Thị Đường trở thành một điểm đến không thể bỏ qua của du khách. Nhà hát đã sưu tầm và khôi phục 08 trong 11 điệu múa cổ, dàn dựng lại 40 bài nhã nhạc và nhiều trích đoạn tuồng cổ. Bình quân mỗi ngày nhà hát tổ chức 04 suất diễn với những tiết mục được dàn dựng công phu thu hút người xem và đánh giá cao như: múa “Lục cúng hoa đăng”, tiểu nhạc“Phú lục- Kim tiền”, đại nhạc “Tam luân cửu chuyển” , múa “Lân mẫu xuất lân nhi”, hay vở tuồng “Người khởi nghiệp đàng trong”.

THUYẾT MINH NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ

Nhã nhạc là một thuật ngữ liên quan đến âm nhạc cung đình, từng có mặt tại 04 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước. Nhã nhạc là sản phẩm kết hợp giữa lễ và nhạc, là nhạc chính thống của triều đại được dùng trong những dịp lễ Tế Giao, Tế miếu và trong các dịp triều hội. Về sau nó còn bao gồm các lọai hình âm nhạc mang tính giải trí cho các bậc vua chúa, hoàng gia và triều đình, cho nên được gọi chung là Âm nhạc cung đình.

Ở Việt Nam, Âm nhạc cung đình đã có từ thời nhà Lý (1010-1225), qua đến đời Trần (1225-1400) Âm nhạc cung đình đã trở nên khá phong phú về lọai hình và bài bản, có cả dàn Đại nhạc và Tiểu nhạc. Tuy nhiên đến thời nhà Hồ (14001407) thuật ngữ Nhã nhạc mới được sử dụng lần đầu tiên trong sử sách của nước ta, đặc biệt đầu thời nhà Lê thì Nhã nhạc mới trở thành một điển chế với những tổ chức dàn nhạc chặt chẽ của cung đình.

Đầu thế kỷ XIX, khi Huế được chọn làm Kinh đô của nước Việt nam thống nhất và rộng lớn, triều Nguyễn đã nâng nền Âm nhạc cung đình lên đến đỉnh cao, môi trường diễn xướng xuất hiện với sự đầu tư của triều đình rất công phu, lần lượt các nhà hát đã ra đời. Âm nhạc cung đình triều Nguyễn đã phát triển đến mức hoàn thiện về nội dung lẫn bài bản, hình thức biểu diễn cũng như kỹ thuật diễn tấu. Nó mang tính bác học, tính triết lý sâu sắc nên đã được xem là quốc nhạc.Khi triều Nguyễn cáo chung, cùng những biến động của lịch sử, Âm nhạc cung đình cũng mai một dần theo thời gian và có nguy cơ thất truyền.Mãi cho đến những năm cuối thế kỷ XX, Nhã nhạc dần dần được phục hồi và đạt được một vị trí thế mới trên trường quốc tế khi trở thành “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” vào tháng 11/2003.

Tuy nhiên công cuộc nghiên cứu để bảo tồn và phát huy giá trị di sản này còn không ít khó khăn. Hy vọng với sự quan tâm của nhà nước, cộng đồng quốc tế, chính quyền địa phương cũng như những nghệ nhân còn sống cùng thế hệ trẻ sẽ cùng chung tay góp sức khôi phục và phát triển dòng nhạc uyên bác này.
– Nhạc cung đình: Nhạc cung đình bao gồm nhiều thể loại: Giao nhạc (dùng trong lễ Tế Giao, Miếu nhạc (dùng trong các lễ Tế Miếu), Vũ tự nhạc (dùng trong các cuộc lễ Tế Thần Nông, Thành Hoàng, Xã Tắc). Đại triều nhạc (dùng trong những dịp lễ lớn), Thường triều nhạc (dùng trong các lễ thường triều), Yến nhạc (dùng trong các cuộc yến tiệc lớn trong cung đình), Cung nhạc (phục vụ trong nội cung).
– Tuồng cung đình: Trên mảnh đất Phú Xuân huyền thoại, tuồng đã xuất hiện khá sớm và thực sự thăng hoa khi vị chân chúa Nguyễn Phúc Nguyên gặp được danh sỹ Đào Duy Từ, người đã bị chế độ phong kiến triều Lê bạc đãi vì xuất thân trong một gia đình “xướng ca vô loài” và tuồng phát triển đến đỉnh cao dưới thời các vua nhà Nguyễn. Vua Minh Mạng đã cho lập Thanh Bình Thự chuyên trách nghệ thuật tuồng, ban phẩm trật quan chức và lương bổng cho nghệ sỹ tuồng, đồng thời tuyển dụng lớp Đồng ấu vào Thanh Bình Thự để đào tạo tài năng từ thuở nhỏ,Vua Tự Đức đã cho lập Ban Hiệu Thư để tập hợp những kịch bản tuồng trong dân gian, chỉnh lý lại thành tuồng bác học.Tương truyền Vua Đồng Khánh mê tuồng đến nổi đã dùng tên các nhân vật trong vở tuồng ông yêu thích để đặt tên cho các cung nữ của mình.Vua Khải Định đam mê tuồng và đã cho xây hẳn một nhà hát để diễn tuồng tại cung An Định, vua còn ban xiêm y cho các đoàn hát. Tuồng cung đình có ý nghĩa lớn trong giáo dục tư tưởng, ca ngợi đất nước và con người.

Đặc biệt có 02 pho tuồng nổi tiếng “Vạn Bửu trình tường” gồm 108 hồi, diễn 108 đêm và lấy tên các vị thuốc Đông y đặt tên và tính cách cho các nhân vật. Pho tuồng “Quần Phương hiến thụy” gồm có 80 hồi, lấy tên các loại hoa.

– Múa cung đình: Múa cung đình bắt nguồn từ các điệu múa truyền thống trong dân gian được chọn lọc và nâng cao theo những quy phạm nghệ thuật chặt chẽ, nghiêm trang . Trong múa cung đình sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các động tác múa, sự di chuyển đội hình theo các tuyến cộng với việc tạo hình tượng theo hình khối làm nên nét đặc trưng riêng, điển hình là điệu múa“Lục cúng hoa đăng”,“Trình Tường tập khánh”. Những điệu múa này thường được biểu diễn trong các ngày lễ: Hưng Quốc khánh niệm, Tết Nguyên Đán, lễ Thánh thọ (sinh nhật Hoàng Thái Hậu ), lễ Vạn Thọ ( sinh nhật Vua), lễ Thiên xuân ( sinh nhật Hoàng Tử), hay lễ kết hôn của Hoàng tử, công chúa và trong các dịp tiếp đãi khách quan trọng.

CUNG TRƯỜNG SANH

Cung Trường Sanh là một quần thể kiến trúc cung điện khép kín với tổng diện tích là 11,400m2, nằm ở phía Tây Bắc bên trong Hoàng thành Huế, phía Bắc giáp với hồ Nội Kim Thủy, phía Nam là cung Diên Thọ, phía Đông là Trực Phương Viên (thuộc khu vực Tử Cấm Thành). Cung Trường Sanh được xây dựng vào năm 1821, dưới thời vua Minh Mạng.

Ban đầu cung có tên là cung Trường Ninh mang dáng dấp của một hoa viên dùng làm nơi dạo chơi, tiêu khiển của nhà vua. Kiến trúc ban đầu của cung có hình chữ “Tam”, gồm 01 điện chính ở giữa, 01 điện phía trước và 01 lầu ở phía sau cùng một số công trình phụ khác xung quanh. Đến năm 1846 dưới thời vua Thiệu Trị, cung được trùng tu lớn về quy mô và kiểu dáng kiến trúc, kiến trúc chính của cung giai đoạn này xếp theo hình chữ “Vương” với hệ thống hành lang nối kết các cung điện lại với nhau.

Ngôi điện đầu tiên có tên là Ngũ Đại Đồng Đường (sở dĩ có tên gọi này là vì tháng 08 năm Thiệu Trị thứ 05, hoàng tử trưởng của vua Thiêu Trị là Hồng Bảo sinh được Hoàng tôn Ưng Đạo là đời thứ 05, nghĩa là 05 thế hệ chung một nhà ). Ở giữa là điện Thọ Khang, phía sau có lầu Vạn Phúc, tất cả nối nhau bằng một hành lang dài, sau lầu Vạn Phúc có xếp mấy ngọn đá giả sơn mang tên Bảo Sơn, Kình Ngư, Hổ Tôn…Vòng quanh cung có lạch nước nhân tạo mang tên Đào Nguyên, trên lạch hai bên trái và phải có dựng cầu để tiện đi lại. Cung quay mặt về hướng Đông, cửa chính của cung xây theo lối tam quan, trang trí đề tài hoa lá và ngũ sắc, phía Tây là cửa Thụy môn, phía Nam là cửa Hữu Hòa và cửa Thanh Minh nằm ở phía Bắc. Bắt đầu từ thời vua Đồng Khánh cung Trường Ninh trở thành nơi ăn ở của Thái Hoàng Thái Hậu (bà nội vua) và một số bà Hoàng Hậu sau khi vua băng hà, tức cung Trường Ninh trở thành Tây cung thứ hai sau cung Trường Thọ (sau là cung Diên Thọ).

Theo sử sách, các bà Lệ Thiên (vợ vua Tự Đức), Từ Minh ( vợ vua Dục Đức) và Tiên Cung (vợ vua Đồng Khánh) đã từng sống ở cung này. Để chuẩn bị cho lễ “Tứ tuần đại khánh” (sinh nhật 40 tuổi) của mình vào năm 1923, vua Khải Định đã cho đại gia tu bổ cung Trường Ninh và đổi tên thành cung Trường Sanh, nhưng chức năng của công trình vẫn không thay đổi. Lần tu sửa này đã thay đổi hoàn toàn diện mạo cung Trường Ninh dưới thời Thiệu Tri. Trong chiến tranh cung Trường Sanh bị lãng quên và trở nên hoang phế. Từ năm 2005 – 2007, Trung tâm BTDT cố đô Huế đã trùng tu tôn tạo để ngày hôm nay cung Trường Sanh đã trở lại với vẻ đẹp ban đầu của nó. Bên cạnh đó để nâng cao chất lượng phục vụ khách tham quan đồng thời làm phong phú thêm hệ thống dịch vụ tại di tích Huế, tại cung Trường Sanh còn tổ chức một không gian văn hóa để trưng bày triển lãm các hiện vật gắn liền với đời sống của các bà trong cung nhà Nguyễn và một số hoạt động dịch vụ văn hóa liên quan.

CUNG DIÊN THỌ

Cung Diên Thọ, một biệt cung nằm ở phía Tây trong Hoàng thành, cung được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long, đây là nơi ăn ở của các bà Hoàng Thái Hậu (thân mẫu của nhà vua). Cung Diên Thọ là một trong những cung điện được xây dựng sớm nhất trong Hoàng thành và có nhiều tên gọi như: Trường Thọ, Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh Thọ và Diên Thọ. Cho dù với tên gọi nào, thì đây cũng là nơi các vị vua Nguyễn thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình với mẹ, mong muốn mẹ sống lâu, vui vẻ và yên bình. Đặc biệt Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, đã ngự trị ở cung này 53 năm, khi mất bà hưởng thọ 92 tuổi. Cung Diên Thọ là nơi diễn ra các nghi lễ cung đình như: Tết Nguyên đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Đoan Ngọ, lễ Ngự tân cung, lễ Thánh thọ và lễ tang Hoàng Thái Hậu. Trong cung này một hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam được các bà Hoàng Thái Hậu gìn giữ, đó là tổ chức ươm tơ dệt vải.

Với việc làm này các bà không chỉ làm gương cho thiên hạ mà còn thể hiện đức hạnh cần cù, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam. Cung Diên Thọ là một tổ hợp kiến trúc được bố trí đăng đối, khoảng 20 công trình lớn nhỏ vừa phong phú về loại hình (điện, tạ, lầu, các) vừa đa dạng về phong cách kiến trúc, bởi chúng được xây dựng và cải tạo trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Có thể nói khu vực Diên Thọ cung là một tập hợp điển hình các phong cách kiến trúc của thời Nguyễn. Tất cả các công trình ấy nằm trong một khuôn viên hình chữ nhật với diện tích 17.506 m2, chung quanh được bao bọc bởi một vòng tường thành bằng gạch cao 03m. Cổng chính phía Nam có tên Thọ Chỉ, phía Đông là cửa Diên Khánh, phía Tây là Địch Tường và cửa phía Bắc là Diễn Trạch. Qua cửa Thọ Chỉ phía trước có bức bình phong dài 21m, cao 04m.

Theo triết lý phong thủy, bình phong giúp cản bớt hỏa khí và hỏa phong từ phương Nam, ngăn cản tà khí xâm nhập vào ngôi điện. Phía Đông của bình phong này là hành lang nối thông qua Tử Cấm Thành để vua qua về vấn an Thái Hậu hoặc Thái Hoàng Thái Hậu. Hai bên phía trước bức bình phong có nhà Tả Hữu Túc đường, dành cho lính canh gác (hiện nay không còn). Sau bức bình phong, nằm ở vị trí trung tâm là Diên Thọ chính điện, nơi ở của Hoàng Thái Hậu, phía Đông chính điện có Trường Du Tạ, một công trình kiến trúc bằng gỗ xinh xắn là nơi ngắm cảnh, tiêu giao của các bà. Phía Tây chính điện có Phước Thọ Am (còn có tên gọi khác: Khương Ninh Các), là ngôi chùa nhỏ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của các bà trong cung. Lầu Tịnh Minh nằm ở phía Tây Nam chính điện là nơi nghĩ ngơi và chữa bệnh của mẹ vua. Đối diện có nhà Tả Trà, dành cho quan khách ngồi nghĩ ngơi trước khi được các bà tiếp kiến.. Nằm cách chính điện Diên Thọ phía sau chừng 20m là điện Thọ Ninh, được xây dựng năm 1849, là nơi ở của thân mẫu nhà vua (dành cho các bà mẹ thứ), diện tích điện có quy mô nhỏ và kiến trúc đơn giản. Đây là nơi để lại nhiều dấu ấn của đời sống sinh hoạt chốn nội cung triều Nguyễn, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ XIX đến khi triều Nguyễn chấm dứt vào năm 1945.

Do tác động của chiến tranh và sự tàn phá của thời gian, điện Thọ Ninh bị hư hại nghiêm trọng và đã được trùng tu hoàn chỉnh. Hai tòa điện này được nối nhau bằng hệ thống hành lang ngắn ở hai bên, tạo một khoảng sân vườn rộng ở giữa thông thoáng và mát mẻ. Ở hai bên phía sau điện Thọ Ninh là nhà bếp, nhà kho, nhà Thái giám và nhà cung nữ ở (hiện nay chỉ còn nền móng của công trình). Chung quanh cung Diên Thọ có đào 04 cái giếng mang phong cách khác nhau để điều hòa lấy nước sinh hoạt, đồng thời ở trong cung còn là nơi lưu giữ nhiều cây cổ thụ, cây kiểng vào loại quý như: Vải , nhãn, khế, tùng La Hán, đào tiên… hệ thống cây xanh nơi đây tạo nên một cảnh quan nhẹ nhàng, lãng mạn và thư thái. Đặc biệt sự có mặt của hệ thống hành lang ở cung Diên Thọ có mái che lợp ngói nối thông tất cả các công trình chính trong cung vừa tạo nên sự thống nhất bền vững, vừa tạo được vẻ mềm mại uyển chuyển của tổng thể kiến trúc trong khu vực cung. Từ sau triều Nguyễn cáo chung năm 1945, cung Diên Thọ bị xuống cấp, hiện vật bị hư hỏng và thất thoát.Trong những năm vừa qua một số công trình trong cung đã được đầu tư trùng tu hoàn chỉnh theo đúng nguyên bản.

PHƯỚC THỌ AM (KHƯƠNG NINH CÁC)

Do quy chế của triều đình vì vậy việc ra vào cung của phụ nữ trong Hoàng gia được quản lý rất nghiêm ngặt. Để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của các bà trong nội cung, năm 1831 vua Minh Mạng đã cho xây dựng Khương Ninh Các làm nơi thờ Phật, thờ các vị thần thánh nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của các bà. Khương Ninh Các nằm ở phía Tây Bắc của Diên Thọ chính điện, là một tòa kiến trúc hai tầng bằng gỗ, nằm quay mặt về hướng Tây, trong một khuôn viên độc lập và được ngăn cách với bên ngoài bằng một vòng tường khép kín.

Phía trước Khương Ninh Các có xây một bể cạn hình chữ nhật trong đắp hòn non bộ, hai bên hồ có hai am nhỏ dùng để thờ các vị thần thánh. Khương Ninh Các có kết cấu hai tầng, tầng 01 gian giữa là bàn thờ hội đồng, phía sau là nơi ăn ở sinh hoạt của các bà phi tần lớn tuổi đã quy y hoặc xuất gia. Lối đi lên tầng hai có cầu thang gỗ, phía trước gian chính giữa là bàn thờ đặt ba pho tượng Phật tam thế, phía trên treo bức hoành phi “ Khương Ninh Các”, hai bên là bàn thờ Quan Công, Ngọc Hoàng thượng đế, các vị Hộ pháp.

Phía sau tầng hai bàn thờ ở giữa thờ tranh và bài vị của Thánh Mẫu Thiên Y A Na, phía trên có bức hoành phi “ Phước Thọ Am”. Bàn thờ bên tả thờ bài vị các Công chúa Mỹ Tường, Diên Phúc là chị và cô của vua Gia Long, bàn thờ bên hữu thờ Tổ sư nghề hát bội. Khương Ninh Các là nơi dung hòa, kết hợp giữa Phật giáo và Thiên tiên thánh giáo, hai tôn giáo này có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của Hoàng gia triều Nguyễn và đại đa số bộ phận người dân xứ Thuận Hóa đương thời. Vì vậy, đây là nơi duy nhất trong các công trình kiến trúc triều Nguyễn có chức năng khá đặc biệt, có tới hai tên gọi: Khương Ninh Các và Phước Thọ Am.

CHÍNH ĐIỆN DIÊN THỌ

Là ngôi điện chính nằm ở vị trí trung tâm của cung Diên Thọ, tòa điện này được xây dựng năm 1804, là nơi ở và sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu triều Nguyễn. Điện là tòa “nhà kép”, quay về hướng Nam, tiền điện kết cấu 07 gian 02 chái nối với chính điện gồm 05 gian 02 chái bằng bộ vì vỏ cua chạm trổ tinh xảo. Mái điện có hai tầng, lợp ngói hoàng lưu ly, trên các bờ nóc, bờ quyết trang trí hình tượng chim phượng hoàng được đắp nổi bằng sành sứ duyên dáng và sinh động, vừa thể hiện nơi ở vừa thể hiện sự cao quý của người phụ nữ quý tộc.

Giữa hai tầng mái là cổ diêm với những ô hộc trang trí đề tài hoa lá màu sắc sặc sỡ . Bên trong nội thất tòa điện được chống đỡ bằng hệ thống các cột và vì kèo bằng gỗ, các họa tiết được chạm trổ tỉ mỉ và tinh xảo, nền điện lát gạch hoa, mặt trước và hai bên hệ thống cửa ra vào được lắp gương trắng để lấy ánh sáng và tạo sự thông thoáng. Phía trên gian giữa của chính điện đặt bức hoành phi sơn son thếp vàng khắc nổi 03 chữ “Diên Thọ Cung”.

Trung tâm tòa điện đặt các bộ bàn ghế để Hoàng Thái hậu tiếp khách. Hai gian hai bên được ngăn riêng thành buồng kín làm nơi nghỉ ngơi. Trên các cột treo các bức tranh gương tả phong cảnh đẹp của kinh đô và miêu tả thời tiết. Chất liệu để vẻ loại tranh này là bột màu pha keo hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản. Đây là loại hình mỹ thuật mang bản sắc riêng của triều Nguyễn.

Dưới các bức tranh là các câu đối mang nội dung ca ngợi, chúc tụng công đức của các Hoàng Thái Hậu, bậc mẫu nghi thiên hạ. Hiện nay trong nội thất chính điện còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, đó là những vật dụng sinh hoạt cá nhân như: khăn vấn tóc, gương soi… hay những dụng cụ để làm bánh, làm mứt…Thông qua các hiện vật này phần nào giúp cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về đời sống sinh hoạt đời thường của các bà trong cung.

TỊNH MINH LÂU

Lầu Tịnh Minh là công trình tọa lạc trên nền cũ của nhà hát Thông Minh Đường, nơi xem hát và xem diễn tuồng của Hoàng Thái Hậu. Năm 1927 vua Bảo Đại đã xây dựng tòa nhà này để làm nơi an dưỡng cho mẹ mình là Hoàng Thái hậu Từ Cung. Lầu Tịnh Minh kết cấu hai tầng có mặt bằng hình vuông. Kiến trúc của tòa lầu là sự kết hợp khéo léo giữa kiến trúc cung đình Huế và kỹ thuật xây dựng theo phong cách mới của phương Tây, phù hợp với khí hậu và văn hóa bản địa, tạo nên một tổng thể cân đối, hài hòa và có giá trị nghệ thuật cao. Tầng một bố cục hai tiền sảnh đối xứng trước và sau với kích thước, hình dáng cũng như các kiểu thức trang trí hoàn toàn giống nhau. Bốn mặt của cả hai tầng mỗi mặt đều trổ ba cửa lớn ra vào, hệ thống cửa gồm hai lớp trong kính ngoài chớp theo kiến trúc của Pháp tạo nên sự thông thoáng cho công trình. Phần móng tòa nhà được ốp đá trang trí theo hình lăng trụ, cao 90cm để chống ẩm. Tất cả góp phần tạo cho tòa nhà luôn thích ứng được với khí hậu nhiệt đới gió mùa.

Hệ thống trụ trang trí đề tài hoa lá cảnh vật phong phú.Trên các bờ nóc bờ quyết, diềm mái, đầu hồi đều được trang trí hình tượng chim phượng, hoa lá, bát bứu, chữ thọ đắp nổi bằng xi măng khảm sành sứ rất tinh xảo. Kiến trúc của lầu Tịnh Minh góp phần làm sinh động thêm cho bức tranh toàn cảnh của Hoàng thành và làm phong phú thêm cho nghệ thuật xây dựng của triều Nguyễn.

TRƯỜNG DU TẠ

Dưới thời vua Tự Đức vào năm 1849, nhân dịp triều đình tổ chức đại trùng tu Cung Diên Thọ để mừng sinh nhật lần thứ 40 của bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, nhà vua đã cho xây dựng một công trình có tên Trường Du Tạ nằm ở phía Đông của chính điện Diên Thọ, là nơi thư giản và hóng mát của mẹ vua . Trường Du Tạ được xây theo lối “Phương Đình”. Năm 1917 dưới thời vua Khải Định, có xây thêm một đình Lương Phong nằm ở phía trước, có chức năng như một tiền sảnh, từ đình Lương Phong xây cầu nhỏ nối qua hai đảo giả đặt giữa hồ, tạo như một tiên đảo.

Trường Du Tạ là một công trình xinh xắn hình chữ nhật dài 28m, rộng 20m, xung quanh trên bờ hồ có xây lan can uốn góc cao 0,9m; mái lợp ngói thanh lưu ly, trên các bờ nóc bờ quyết của tạ lấy đề tài bát bửu, hoa lá, con vật làm trang trí chủ đạo. Nội thất Trường Du Tạ kết cấu một gian hai chái, chung quanh ba mặt Đông, Tây và Bắc có các vách ngăn bằng gỗ bao bọc. Hai bức ngăn ở hai chái có kích thước và kiểu thức trang trí giống nhau với các ô hộc đề tài nhất thi nhất họa được khảm xà cừ,… Trường Du Tạ là công trình hài hòa với cảnh quan, hình thức trang trí giàu tính nghệ thuật, là một trong bốn nhà tạ cổ xưa còn lại của Kinh thành Huế.

TẢ TRÀ

Nhà Tả Trà là một công trình nằm trong tổng thể kiến trúc của cung Diên Thọ, là nơi dành cho quan khách nghỉ ngơi, chờ đợi trước khi được Hoàng Thái hậu tiếp kiến. Công trình này được xây dựng vào năm 1804, có kết cấu ba gian hai chái bằng gạch và gỗ, mái lợp ngói liệt có độ dốc cao. Năm 1917 dưới thời vua Khải Định nhà được cải tạo bằng bê tông cốt thép, nhà Tả Trà được thiết kế nhiều cửa ra vào cũng như cửa sổ để đón ánh sáng và tạo sự thông thoáng. Tuy nhiên, trải qua sự khắc nghiệt của thời tiết và chiến tranh tàn phá, nhà Tả Trà chỉ còn nền móng và một số cấu kiện của bộ khung nhà.

Năm 2014 nhà Tả Trà đã được trùng tu, phục hồi. Lần trùng tu này có ý nghĩa to lớn để công trình được trở lại nguyên bản, từng bước phục hồi hoàn chỉnh cảnh quan cũng như các công trình kiến trúc của cung Diên Thọ nói riêng và Đại Nội nói chung; góp phần gìn giữ cung Diên Thọ và bảo tồn các giá trị của quần thể di tích Cố đô Huế. Hiện nay trong nội thất nhà Tả Trà trưng bày một số đồ hiện như: sập, bàn, tủ gỗ khảm cấn xà cừ, bộ bàn ghế sơn son thếp vàng theo phong cách thời vua Khải Định và những bức tranh gương đã được phục chế.

Đặc biệt là chiếc kiệu của bà Hoàng Thái Hậu Từ Cung, mẹ Vua Bảo Đại và chiếc xe kéo của bà HoàngThái Hậu Từ Ninh, mẹ Vua Thành Thái. Chiếc xe kéo này do vua Thành Thái mua tặng cho mẹ để bà dạo chơi trong cung. Sau hơn 100 năm lưu lạc, tháng 06 năm 2014 chiếc xe đã được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cùng Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và kiều bào đấu giá thành công tại Pháp với tổng giá trị khi về đến Huế là 55,800 Euro. Việc đấu giá thành công và trưng bày chiếc xe kéo tại đây mang một ý nghĩa rất lớn khi lần đầu tiên Việt Nam đấu giá thành công tại sàn đấu giá quốc tế và đưa được cổ vật quý giá về lại quê hương.

CHIẾC KIỆU CỦA HOÀNG THÁI HẬU TỪ CUNG

Theo quy định của triều Nguyễn, kiệu là một phương tiện đi lại chỉ dành riêng cho Vua, Hoàng Thái hậu và Thái tử, những người có địa vị cao quý nhất trong hoàng tộc. Kiệu dành cho vua gọi là“Long liễn” hoặc “Ngự liễn”, thông thường có kết cấu gồm một cái ghế chạm thếp vàng có mái che, đặt trên một giàn đòn và có đến 16 khiêng (được chia làm hai hàng, mỗi hàng có tám người). Kiệu của Hoàng Thái hậu gọi là “Phụng liễn” có kết cấu giống“Long liễn”, nhưng thân kiệu được làm thành hộp để giữ sự kín đáo cho chủ nhân ngồi bên trong, cũng có 16 người khiêng.

Đây là chiếc kiệu của bà Hoàng Thái Hậu Từ Cung, bà là mẹ của vua Bảo Đại. Bà là Hoàng Thái Hậu cuối cùng của triều Nguyễn và của cả chế độ phong kiếnViệt Nam. Tên thật của bà là Hoàng Thị Cúc (sinh năm 1890 và mất năm 1980 ), hưởng thọ 80 tuổi. Kiệu của Hoàng Thái Hậu Từ Cung đã trải qua hơn 01 thế kỷ, nhưng vẫn trong tình trạng tương đối tốt. Hai đầu tay đòn phía trước của kiệu được chạm hình đầu chim phụng, một loại chim biểu tượng của người phụ nữ hoàng tộc, hai đầu tay đòn phía sau chạm hình đuôi phượng. Thân kiệu bốn mặt được sơn son thếp vàng chạm trổ công phu, các mô típ trang trí kiệu mang đậm chất cung đình Huế. Phần trên của kiệu bốn mặt đều có màn che màu vàng, tạo sự kín đáo.

Đây là một hiện vật vô cùng quý giá, chứa đựng những thông điệp của quá khứ, những tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và nhiều bản sắc. Đồng thời thông qua hiện vật chúng ta còn hiểu thêm về lịch sử và một phương diện giao thông dưới triều đại phong kiến Việt Nam.

ĐIỆN PHỤNG TIÊN

Điện Phụng Tiên nằm ở phía Tây Nam của Hoàng Thành. Ban đầu có tên gọi là Hoàng Nhân, được xây dựng dưới thời vua Gia Long năm 1814. Điện nằm ở phía Đông Nam của Hoàng Thành, là nơi thờ bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, vợ của Vua Gia Long. Năm 1820 vua Gia Long mất cũng được thờ tại ngôi điện này. Năm 1837 vua Minh Mạng đã đổi tên điện thành Phụng Tiên, sau đó cho di chuyển đến vị trí hiện nay với quy mô lớn hơn, là nơi thờ các vua và hoàng hậu triều Nguyễn, từ thời vua Gia Long trở về sau.

Điện Phụng Tiên là một trong năm ngôi miếu thờ quan trọng nhất của triều Nguyễn, được xếp vào hàng liệt miếu thuộc bậc đại tự. Các vua nhà Nguyễn dành cho công trình này một sự quan tâm đặc biệt, từ việc chỉnh trang, tu bổ đến việc thân hành đến làm lễ trong các dịp cúng tế. Điều này thể hiện lòng hiếu kính tổ tiên của các vị vua triều Nguyễn nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Nếu Thế Miếu là ngôi miếu thờ vua và hoàng hậu mang tính quốc gia, nơi mà theo quan niệm Nho gia người phụ nữ không được tham dự, thì điện Phụng Tiên là ngôi miếu mang tính gia đình hoàng tộc, người phụ nữ được vào dự các cuộc lễ và chăm lo hương khói hàng ngày.

Điện Phụng Tiên có tổng diện tích là 8.776m2, xung quanh được bao bọc bức tường thành cao 03m. Bên trong điện các công trình được xây dựng đăng đối, được phân chia thành những khu vực độc lập, ngăn cách với bên ngoài bởi các bức tường và có lối đi riêng. Điện có 01 cổng chính nằm ở phía Nam và 04 cổng phụ nằm ở phía Bắc. Cửa chính được thiết kế theo kiểu tam quan, lối giữa có kích thước to hơn là nơi dành cho vua đi, 02 lối đi hai bên dành cho các thành viên của triều đình. Trên các mái cong của cửa treo 24 chiếc chuông nhỏ, có tác dụng để mời gọi thần linh và xua đuổi tà ma. Ngay phía sau cổng chính là tấm bình phong có chiều dài 21,6m, cao 3,4m. Theo nguyên tắc triết lý phong thủy, công trình này nhằm giúp cản bớt hỏa khí và hỏa phong từ hướng Nam, ngăn cản những thứ khí chẳng lành xâm nhập vào ngôi diện. Sau bình phong là một bể nước lớn bên trong đặt hòn đá giả sơn.

Điện Phụng Tiên nằm ở vị trí trung tâm, xây theo kiểu “nhà kép”. Chính điện có 09 gian, tiền điện 11 gian, là nơi thờ bàì vị của vua và hoàng hậu. Đặc biệt nơi đây còn thờ rất nhiều các đồ khí tự mà sinh thời các vua thường dùng. Từ sau năm 1947 điện Phụng Tiên hoàn toàn sụp đổ cùng với nhiều cung điện khác trong quần thể di tích Cố đô Huế, đó là tổn thất to lớn cho cố đô Huế nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

Vào ngày 29 tháng 09 năm 2017, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cùng Hội Bảo tồn Di sản Cộng hòa Liên bang Đức đã phối hợp tổ chức lễ khởi công dự án bảo tồn phục hồi 03 hạng mục của điện Phụng Tiên bao gồm: cổng tam quan, bình phong và hòn non bộ. Dự án do Bộ Ngoại giao Cộng hòa Liên bang Đức thông qua Sứ quán tại Hà Nội tài trợ với nguồn kinh phí 2,8 tỷ đồng cùng 784 triệu đồng từ ngân sách của địa phương. Sau khi hoàn tất việc trùng tu điện Phụng Tiên như ban đầu, điện Phụng Tiên sẽ là nơi hấp dẫn du khách, đặc biệt là nơi góp phần giáo dục các thế hệ học sinh sinh viên biết thêm về lòng hiếu kính tổ tiên của các vua Nguyễn nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung; đồng thời cũng như hiểu rõ về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của con người Việt Nam.

CỬA CHƯƠNG ĐỨC

Cửa Chương Đức là một trong bốn cổng của Hoàng Thành, cổng nằm ở phía Tây của Hoàng Thành, ngoài chức năng là cổng dành cho các bà trong cung ra vào, cùng với Tây Khuyết đài cổng Chương Đức còn góp phần phòng thủ bảo vệ triều đình và hoàng gia; đồng thời tạo sự ngăn cách đời sống sinh hoạt trong cung với xã hội bên ngoài. Quan niệm “tả nam hữu nữ, nam nhân nữ đức” là nguyên tắc quan trọng trong các công trình kiến trúc của triều Nguyễn.

Tên Chương Đức ngụ ý nói đến “tứ đức” của người phụ nữ xưa. Cửa được xây dựng năm 1804 dưới thời vua Gia Long theo kiểu tam quan nhưng cách thức đơn giản và chưa có vọng lâu. Qua nhiều lần cải tạo, vào thời vua Khải Định năm 1921, cửa được sửa chữa và có sự tiếp thu cao về kỹ thuật cũng như vật liệu xây dựng; đặc biệt là hình thức trang trí đắp nổi sành sứ, thủy tinh. Nghệ thuật ghép sành sứ ở cửa Chương Đức đã đạt đến một trình độ cao, thực sự là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển ghép sành sứ dưới triều Nguyễn nói chung và dưới thời vua Khải Định nói riêng.

Cửa Chương Đức có ba tầng, trên các trụ thân cửa chia thành nhiều ô hộc, mỗi ô hộc trang trí với nhiều chủ đề khác nhau, đó là những bức tranh và là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Hệ thống mái lợp ngói hoàng lưu ly; đầu ngói tròn nổi nhô lên trên khắc nổi chữ “Thọ” trong khung tròn, đầu ngói chìm bên dưới khắc nổi đầu con dơi, mô típ trang trí này rất phổ biến ở các di tích của triều Nguyễn với ý nghĩa “Phúc Thọ Khang Ninh”.

Từ sau khi triều Nguyễn cáo chung năm 1945, cửa Chương Đức ít được quan tâm, tu sửa. Đặc biệt do bom đạn trong chiến tranh đã làm cửa bị hư hại nhiều. Từ năm 2003 – 2004 cửa Chương Đức đã được trùng tu lại theo nguyên mẫu dưới thời vua Khải Định như chúng ta thấy hiện nay.

HƯNG MIẾU

Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) nơi thờ chúa Nguyễn Phúc Luân, thân sinh của vua Gia Long. Ông bị quyền thần ngoại thích Trương Phúc Loan sát hại, và sau này được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế. Hưng Miếu được dựng từ năm Gia Long thứ 03 (1804) ở góc Tây Nam trong Hoàng thành, tại vị trí Thế Miếu ngày nay với tên gọi là Hoàng Khảo Miếu. Năm Minh Mạng thứ 02 (1821), Hoàng Khảo Miếu được dời lùi về phía bắc chừng 50m để lấy chỗ dựng Thế Miếu và đổi tên thành Hưng Tổ Miếu. Hưng Miếu quay mặt về hướng Nam, xung quanh có xây tường bao bọc và hệ thống cửa ra vào . Miếu được xây theo lối “nhà kép”, chính đường 03 gian 02 chái kép, tiền đường 05 gian 02 chái đơn. Bên trong đặt khám thờ bài vị của Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế và Hoàng hậu. Lễ tế ở Hưng Miếu tổ chức mỗi năm 05 lần tựa như ở Thái Miếu và Thế Miếu.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 02-1947, Hưng Miếu đã bị đốt cháy hoàn toàn. Năm 1951 bà Từ Cung và con là Quốc trưởng Bảo Đại đã thương lượng với hậu duệ của An Khánh vương và mua được phủ thờ của ông hoàng ấy từ Kim Long đưa về dựng lại trên nền cũ của Hưng Miếu để tiếp tục thờ ông bà Nguyễn Phúc Luân. Năm 1995 tòa nhà này lại được tu bổ thêm một lần nữa. Trong lần tu bổ này, miếu được sơn son thếp vàng.

THẾ MIẾU ( THẾ TỔ MIẾU)

Các vị vua nhà Nguyễn sử dụng hệ tư tưởng Nho Giáo để cai trị đất nước, hệ tư tưởng này đã ảnh hưởng đến cả thể chế và kiến trúc xây dựng trên các công trình. Khác với triều đình phong kiến Trung Hoa, nhà Nguyễn đã cho xây dựng trong Hoàng Thành 05 ngôi miếu thờ: Triệu Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu và Miếu Phụng Tiên; đồng thời hàng năm đặt ra nhiều lễ để thờ cúng, công việc thờ cúng được sắp đặt một cách quy cũ và theo trình tự: Đại tự – Trung tự và Quần tự. Trong đó Thế Tổ Miếu được đưa vào hàng Đại tự, đây cũng là khu vực thờ tự còn nguyên vẹn nhất của triều Nguyễn.

Thế Tổ Miếu được xây dựng từ năm 1821 đến 1822 dưới thời vua Minh Mạng, ban đầu để thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long ) và danh xưng Thế Tổ Miếu được đặt theo miếu hiệu này. Về sau Thế Miếu là nơi thờ các vị vua của triều Nguyễn. Trải qua nhiều biến cố lịch sử và vài lần tu bổ, sửa chữa, Thế Tổ Miếu vẫn được giữ nguyên kiểu kiến trúc ban đầu. Về kiến trúc Thế Tổ Miếu được thiết kế theo lối kiến trúc “trùng lương trùng thiềm”, gồm hai bộ mái với hai bộ kèo được nối với nhau bằng “trần thừa lưu” (còn gọi là trần vỏ cua), tạo thành một không gian nội thất chung, rộng rãi và thâm nghiêm.

Nhà chính có 09 gian và 02 chái kép, nhà trước có 11 gian và 02 chái đơn nối liền nhau bằng vì vỏ cua chạm trổ rất tinh tế. Phần mái ngói của Thế Miếu vốn được lợp ngói hoàng lưu ly, trên đỉnh nóc gắn thái cực bằng pháp lam màu sắc rực rỡ. Thế Tổ Miếu là công trình được trang trí nhiều ô thi họa nhất, riêng thơ đã có đến 676 ô thơ nằm trên các liên ba, đố bản, cổ diềm tầng tầng lớp lớp. Những ô thơ này hầu hết đều chạm khắc sơn son thếp vàng và thể hiện theo lối “ nhất thi nhất họa”. Mỗi ô thơ đều chạm rất công phu bằng kỹ thuật chạm âm nền xuống để nổi bật chữ lên, tạo nên một bức thư pháp rực rỡ và độc đáo. Nội dung các ô thơ chủ yếu ngợi ca công đức của vua Gia Long, tán tụng công lao khôi phục cơ đồ, khai sáng triều đại, mở mang bờ cõi, đồng thời ca tụng nhiều chiến công hiển hách của nhà vua trong tư thế của một chiến tướng … Ở mỗi gian thờ được sắp xếp, trong cùng là khám thờ, tiếp theo là sập thờ, kỷ thờ, bàn thờ, ngoài cùng là án thờ.

Án thờ vua Gia Long và 02 Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của những vị vua còn lại đều theo nguyên tắc “tả chiêu, hữu mục” để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là “xuất đế” và “phế đế” đều không được thờ trong tòa miếu này, vì vậy trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 07 án thờ của các vị vua dưới đây:

1. Án thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) và 02 Hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên ( gian chính giữa).

2. Án thờ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng) và Hoàng hậu ở gian tả nhất (gian thứ nhất bên trái, tính từ gian giữa).

3. Án thờ Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) và Hoàng hậu ở gian hữu nhất (gian thứ nhất bên phải, tính từ gian giữa).

4. Án thờ Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức) và Hoàng hậu ở gian tả nhị (gian thứ hai bên trái).

5. Án thờ Giản Tông Nghị Hoàng Đế (vua Kiến Phúc) ở gian hữu nhị (gian thứ hai bên phải).

6. Án thờ Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (vua Đồng Khánh) và Hoàng hậu ở gian tả tam (gian thứ ba bên trái).

7. Án thờ Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế (vua Khải Định) và Hoàng hậu ở gian hữu tam (gian thứ ba bên phải).

Đến tháng 10 năm 1958, án thờ 03 vị vua yêu nước vốn bị liệt vào hàng xuất đế là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân được hội đồng Nguyễn Phúc Tộc rước vào thờ ở Thế Tổ Miếu. Hiện nay án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái) và án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Còn các vị vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa và vua Bảo Đại đến nay vẫn chưa thờ trong Thế Tổ Miếu.

Ở phía trước tòa miếu là sân rộng lát gạch Bát Tràng, hai bên có đôi Kỳ lân bằng đồng đứng uy nghiêm trong thiết đình. Đặc biệt ở góc cửa phía tây của Thế miếu có một cây thông cổ thụ, hình dáng uốn lượn rất đẹp, tương truyền được trồng từ khi xây dựng miếu. Trong khuôn viên của Hưng Miếu và Thế Miếu có nhà Thần Trù (nhà bếp), Thần Khố ( nhà kho) nằm song song với hai tòa miếu.

THUYẾT MINH HIỂN LÂM CÁC

Hiển Lâm Các nằm trong khu vực Thế Miếu, được xây dựng vào các năm 1821- 1822. Đây được xem như một đài kỷ niệm ghi nhớ công trạng các vua nhà Nguyễn, là nơi các hoàng đế hiển linh, chứng kiến sự hiếu thảo của con cháu khi có các cuộc lễ. Hiển Lâm Các là công trình bằng gỗ cao nhất bên trong Hoàng Thành, tòa nhà được xây trên một nền cao hình chữ nhật với kết cấu 03 tầng, giữa các tầng có tỷ lệ cân xứng, hài hòa với nhau. Kiến trúc Hiển lâm Các vững chải một phần nhờ vào sức chống đỡ của 24 cột gỗ, trong đó có 04 cột gỗ cao xuyên suốt 03 tầng làm xương sống cho tòa nhà. Các hệ thống liên ba, đố bản, vì kèo được những người thợ khéo léo chạm nổi các mô típ hình con rồng cách điệu hóa thành dây leo lá cuốn. Tầng thứ nhất của Hiển Lâm Các có ba gian hai chái, ba mặt ngoài xây vách bằng gạch để che nội thất và gia cố thêm hàng cột thấp. Phía trên cửa giữa treo bức hoành phi lớn có ba chữ “Hiển Lâm Các”, khung chạm hình 09 con rồng vờn mây sơn son thếp vàng. Chiếc cầu thang bằng gỗ nối lên tầng 02 được trang trí rất tinh tế với nhiều họa tiết chạm trổ công phu. Hai tay vịn chia thành các ô trang trí hình chữ “thọ”, chữ “vạn” và các đường“ kỷ hà”. Đầu và cuối tay vịn chạm nổi hình đầu và đuôi rồng uốn lượn mềm mại, mặt thềm cầu thang chạm hình mây, sóng nước. Tầng thứ hai có ba gian, hai mặt trước sau dựng cửa lá sách, chung quanh bên ngoài là một hệ thống lan can bằng gỗ trau chuốt tỉ mỉ, những con-xơn chạm trổ công phu vừa có giá trị kết cấu, vừa để trang trí. Ngày trước, ở tầng này có đặt một sập Ngự và thư án. Tầng thứ ba chỉ có một gian, mặt trước và mặt sau dựng những cửa lá sách. Mái lợp ngói hoàng lưu ly, ở giữa đỉnh mái là hình bầu rượu bằng pháp lam màu vàng đặt trên án mây pháp lam ngũ sắc. Hai bên mặt nền tầng một của Hiển Lâm Các là cửa Tuấn Liệt (bên trái) và Sùng Công (bên phải), phía trên cửa có đặt lầu chuông và lầu trống. Bên ngoài hai cửa này là nhà Tả Vu và Hữu Vu, nơi thờ các công thần, thân huân của thời Nguyễn.

THUYẾT MINH CỬU ĐỈNH

Đối diện với Thế Tổ Miếu là Cửu đỉnh (09 cái đỉnh bằng đồng), được đúc vào các năm 1835-1836, dưới thời vua Minh Mạng. Cửu đỉnh do những người thợ thủ công ở Phường Đúc Huế thực hiện, những nghệ nhân đúc nên các đỉnh này từ các làng nghề đúc nổi tiếng ở Thanh Hóa và Bắc Ninh vào đây từ thời các chúa Nguyễn. Trên mỗi đỉnh khắc nổi 17 họa tiết và được xếp thành 03 tầng: trên, dưới, giữa chạy tròn theo quanh thân mỗi đỉnh. Những hình tượng tự nhiên như: mặt trời, mặt trăng, tinh tú… Hình ảnh của núi, sông, của biển, cửa quan…Các loài hoa, muông thú, sản vật, vũ khí, phương tiện v..v… Thể hiện vũ trụ quan và nhân sinh quan của người xưa, đồng thời đó là bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của một đất nước thịnh vượng và thống nhất và giàu đẹp. Mặt trước của thân đỉnh đúc nổi hai chữ Hán, chữ sau là chữ “đỉnh”, chữ còn lại là tên riêng của đỉnh: (Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghi, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền), tên của đỉnh cũng là tên gọi miếu hiệu của từng vị vua nhà Nguyễn ứng với các án thờ trong Thế miếu.

Cao Đỉnh miếu hiệu vua Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng Đế), Nhân Đỉnh miếu hiệu vua Minh Mạng (Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế), Chương Đỉnh miếu hiệu vua Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế), Anh Đỉnh miếu hiệu vua Tự Đức (Dực Tông Anh Hoàng đế), Nghị Đỉnh miếu hiệu vua Kiến Phúc,Thuần Đỉnh miếu hiệu vua Đồng Khánh (Cảnh Tông Thuần Hoàng đế), Tuyên Đỉnh miếu hiệu vua Khải Định (Hoằng Tôn Tuyên Hoàng Đế), Dụ Đỉnh và Huyền Đỉnh, tên hai đỉnh sau cùng này chưa tượng trưng cho vua nào vì triều Nguyễn đã kết thúc.

Mỗi đỉnh khác nhau về trọng lượng, nặng từ 02 tấn đến 2,7 tấn. Khi đúc đỉnh người thợ đã dùng 60 lò nấu đồng cùng một lúc, trung bình mỗi lò nấu chảy từ 30 đến 40kg đồng rồi tuần tự liên tục rót vào từng khuôn. Khuôn đỉnh chúc ngược lại, phía trên là 03 chân đỉnh, đồng nấu chảy đổ vào một trong 03 chân đỉnh.

Cao Đỉnh có: Hình ảnh của Biển Đông, chủ quyền của quốc gia. Núi Thiên Tôn ở Thanh Hóa nguồn gốc của dòng họ Nguyễn, sông Bến Nghé ở Gia Định là vùng đất dấy nghiệp, kênh Vĩnh Tế thể hiện sự phát triển nông nghiệp, giao thông biên giới bờ cõi phía Nam…

Nhân Đỉnh có: sông Hương, núi Ngự là thắng cảnh nổi tiếng của Kinh đô, kênh Phổ Lợi phát triển nông nghiệp. Hình ảnh cây ngô đồng, giống cây mang về từ Quảng Đông (Trung Quốc) tượng trưng cho sự thái bình thịnh trị…

Chương Đỉnh có: hình ảnh của đất kinh đô như núi Kim Phụng, sông Lợi Nông, sông Gianh ở Quảng Bình, Biển Tây…

Nghị Đỉnh có: Quảng Bình Quan ở Quảng Bình, sông đào ở Hưng Yên, sông Bạch Đằng chảy qua Hải Phòng- Quảng Ninh, biển Thuận An ở Huế…

Anh Đỉnh có: hình ảnh sông Mã ở Thanh Hóa, sông Lô ở Tuyên Quang, núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh…

Dụ Đỉnh có : cửa biển Đà Nẵng, sông Vĩnh Điện ở Quảng Nam, sông Vệ ở Quảng Ngãi, có Hải Vân Quan …

Thuần Đỉnh có: núi Tản Viên (núi Ba Vì) ở Hà Tây, sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, Cần Giờ cửa biển ở miền Nam…

Huyền Đỉnh có: sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam, Hoành Sơn ở miền Trung, sông Thao ở miền Bắc… Ngày 17/7/2012 Cửu đỉnh triều Nguyễn đã được xếp vào danh mục bảo vật quốc gia Việt Nam.

Tuyên Đỉnh có: núi Đại Lãnh ở Khánh Hoà, sông Lam ở Nghệ An và Hà Tĩnh, sông Hồng ở miền Bắc…

PHỦ NỘI VỤ

Phủ Nội Vụ nằm ở phía Đông bắc của Hoàng Thành. Là công trình được xây dựng dưới thời vua Gia Long, công trình này ban đầu có tên gọi là Phủ Đồ Gia nằm ở bên trong Tử Cấm Thành. Đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) Phủ Đồ Gia được đổi thành Phủ Nội Vụ, năm 1837 vua Minh Mạng đã quyết định dời Phủ Nội Vụ ra khỏi Tử Cấm Thành và đặt tại vị trí hiện nay.

Phủ Nội Vụ là nơi quản lý (cất giữ, chế tác, nghiệm thu, dâng tiến, cấp phát…) các loại vàng bạc, châu ngọc, gấm vóc, tiền bạc và vật dụng quý phục vụ cho sinh hoạt của hoàng gia và triều đình. Đây là một cơ sở hậu cần trực tiếp của nhà vua, đồng thời là một dạng ngân khố của nhà nước quân chủ cuối cùng ở Việt Nam.

Phủ Nội Vụ gồm có: sở Chi Thu, sở Nội Tạo và sở Đốc Công. Dưới thời vua Gia Long, Phủ Nội Vụ có 6 kho, đến thời vua Minh Mạng trở đi được nâng lên con số 10 kho gồm: Kho Kim Ngân (vàng bạc), Kho Châu Ngọc, Kho Cẩm Tú (gấm vóc), Kho Trân Ngoạn, Kho sa lĩnh, Kho vật dụng, Kho Thái phục (quần áo), Kho Văn ỷ (tơ lụa), Kho Dược phẩm (kho thuốc men, hương liệu), Kho Nhạc khí (đồ diễn tuồng, tấu nhạc, múa hát). Với quy mô rộng lớn, nhưng trãi qua nhiều biến cố lịch sử, các công trình ở Phủ Nội Vụ lần lượt bị triệt giải dần.

Nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ du khách, trong thời gian qua Trung tâm BTDT cố đô Huế đã tiến hành triển khai một số hoạt động trưng bày và giới thiệu sản phẩm nghề truyền thống của Huế. Tại đây du khách vừa tham quan vừa được trải nghiệm các kỹ thuật truyền thống về cách làm nón, làm trầm hương…đồng thời có thể chọn mua cho mình những sản phẩm mang dấu ấn riêng của hoàng cung như: ngự trà Tịnh Tâm liên hoa, ngự tửu Hoàng triều Ngự tửu cùng các loại thảo dược làm nên thang thuốc nổi tiếng Minh Mạng thang.

TRIỆU MIẾU

Triệu Tổ Miếu hay còn gọi là Triệu Miếu, là 01 trong 05 miếu thờ quan trọng của triều Nguyễn, được xây dựng vào năm Gia Long thứ 03 (1804). Triệu Miếu nằm ở phía Đông Nam bên trong Hoàng Thành. Là nơi thờ ông Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Nguyễn Kim là người đã phò Lê Trang Tông khởi đầu cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê.

Năm 1545 ông đã bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, sau này triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế. Triệu Miếu được xây trong một khuôn viên hình chữ nhật. Về kiến trúc, miếu gồm 01 tòa nhà chính xây theo lối “nhà kép”, chính đường 03 gian 02 chái, tiền đường 05 gian 02 chái đơn. Bên trong nhà chính đặt án thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế và Hoàng hậu. Mỗi năm tổ chức 05 lần tế tương tự như ở Thái Miếu.

Trải qua thời gian hơn 200 năm, do chịu nhiều tác động bởi thời tiết khắc nghiệt ở Huế, sự hủy hoại của chiến tranh, công trình miếu đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Được sự tài trợ từ Quỹ Bảo tồn Văn hóa của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam trị giá 700,000 USD cùng với nguồn đầu tư ngân sách, dự án trùng tu Triệu Tổ Miếu đã được triển khai vào tháng 6/2014.

THÁI MIẾU

Thái Miếu được xây dựng dưới thời vua Gia Long vào năm (1804). Miếu được xây dựng ở phía Đông Nam bên trong Hoàng thành, nơi thờ đức Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế (chúa Nguyễn Hoàng) và Hoàng hậu và cùng thờ các chúa:

– Hiếu Văn Hoàng Đế ( chúa Nguyễn Phúc Nguyên)

– Hiếu Chiêu Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Lan)

– Hiếu Triết Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Tần)

– Hiếu Nghĩa Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Trăn)

– Hiếu Minh Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Chu)

– Hiếu Ninh Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Chú)

– Hiếu Võ Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Khoát)

– Hiếu Định Hoàng Đế (chúa Nguyễn Phúc Thuần).

Chỉ trừ Hiếu Định Hoàng Đế, còn các chúa khác đều thờ Hoàng hậu chung một án. Năm 1805, sau một năm xây dựng Thái miếu, vua Gia Long đã cho đặt thờ thêm các bài vị của những công thần: Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo, Tôn Thất Đồng, Nguyễn Ư Kỷ, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tấn, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Cư Trinh, đều là những người có công lớn đối với Chúa. Toà nhà chính kiến trúc theo kiểu“nhà kép”, chính đường 13 gian 02 chái kép, tiền đường 13 gian 02 chái đơn. Phía đông nhà chính là điện Long Đức, phía nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía bắc điện này có toà nhà vuông.

Phía trước Thái miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh) kết cấu 03 tầng, hình thức tương tự gác Hiển Lâm ở phía trước của Thế miếu. Phía nam gác Tuy Thành, hai bên có nhà Tả Vu và Hữu Vu. Bài vị của các công thần được đặt phối thờ ở hai nhà này. Trong khuôn viên của Triệu Miếu và Thái Miếu, có nhà Thần Trù (nhà bếp), Thần Khố ( nhà kho) nằm song song với hai tòa miếu.

TỔ TIÊN CÁC VỊ CHÚA NGUYỄN

Thủy tổ của dòng họ Nguyễn là ông Nguyễn Bặc, ông là một danh tướng đời nhà Đinh, đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Dưới thời nhà Lê, nhà Mạc nổi lên truy sát con cháu vua Lê, Nguyễn Kim (Nguyễn Cam) là một võ tướng dưới thời nhà Hậu Lê có công khôi phục nhà Lê, mở ra thời kỳ Lê Trung Hưng. Ngài được xem là tổ tiên của họ Nguyễn Phúc ở Miền Nam, khai sáng ra hệ 01 trong Nguyễn Phúc Tộc.

GIỚI THIỆU CÁC CHÚA NGUYỄN

1. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613):

– Con thứ hai của Nguyễn Kim (người có công dựng ra Nam triều, sau được truy tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế). Sinh vào tháng 08 năm Ất Dậu (1525). Thân mẫu người họ Nguyễn (con gái của quan Đặc Tiến Phụ quốc thượng tướng quân thự vệ sự triều Lê), sau được truy tôn là Tĩnh Hoàng hậu.

– Vào trấn thủ Thuận Hoá tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), đến tháng 11 năm Canh Ngọ (1570) thì kiêm quản cả xứ Quảng Nam thay cho Nguyễn Bá Quýnh.

– Tháng 05 năm Quý Tỵ (1593) được phong làm Thái uý, Đoan Quốc Công

– Ở ngôi Chúa 55 năm, dân thường gọi là Chúa Tiên, mất vào tháng 06 năm Quý Sửu (1613), thọ 88 tuổi.

– Sau được truy tôn làm Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế. Trong thời gian ở ngôi, Nguyễn Hoàng đã cho quân đánh Chiêm Thành, mở rộng biên cương lãnh thổ đến khu vực tỉnh Phú Yên ngày nay. Trận đánh này xảy ra năm Tân Hợi (1611).

2. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613- 1635)

– Con thứ 06 của Nguyễn Hoàng, bốn người con đầu của Nguyễn Hoàng đều mất sớm, người con thứ 05 thì phải làm con tin ở Đàng Ngoài. Sinh vào tháng 07 năm Quý Hợi (1563). Thân mẫu người họ Nguyễn, sau được truy tôn là Gia Dũ Hoàng hậu.

– Năm Nhâm Dần (1602) được làm trấn thủ Quảng Nam.

– Nối nghiệp Chúa từ tháng 6 năm Quý Sửu (1613), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái bảo, tước Thuỵ Quận Công.

– Ở ngôi Chúa 22 năm, dân thường gọi là chúa Phật hay chúa Sãi, mất vào tháng 10 năm Ất Hợi (1635), thọ 72 tuổi. Sau được truy tôn là Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế.

3. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648)

– Con thứ 2 của Nguyễn Phúc Nguyên. Sinh vào tháng 07 năm Tân Sửu (1601). Thân mẫu người họ Nguyễn, sau được truy tôn là Hiếu Văn Hoàng hậu.

Nối nghiệp chúa từ tháng 10 năm Ất Hợi (1635), dân thường gọi là chúa Thượng, ở ngôi chúa 13 năm, mất vào tháng 2 năm Mậu Tý (1648), thọ 47 tuổi.

– Sau được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế. 4. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648- 1687)

– Con thứ 02 của Nguyễn Phúc Lan. Sinh vào tháng 06 năm Canh Thân (1620). Thân mẫu người họ Đoàn, sau được truy tôn là Hiếu Chiêu Hoàng hậu.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 02 năm Mậu Tý (1648), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái Bảo, tước Dũng Quốc Công, dân thường gọi là chúa Hiền.

– Ở ngôi chúa 39 năm, mất vào tháng 03 năm Đinh Mão (1687), thọ 67 tuổi. Sau được truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế.

4. Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687- 1691)

– Con thứ 02 của Nguyễn Phúc Tần. Sinh vào tháng 12 năm Kỷ Sửu (1649). Thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Triết Hoàng hậu.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 03 năm Đinh Mão (1687), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái phó, tước Hoàng Quốc Công, dân thường gọi là chúa Nghĩa.

– Ở ngôi chúa 04 năm, mất vào tháng 01 năm Tân Mùi (1691), thọ 42 tuổi.  – Sau được truy tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế.

6. Chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725)

– Con trưởng của Nguyễn Phúc Trăn. Sinh vào tháng 05 năm Ất Mão (1675). Thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Nghĩa Hoàng hậu.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 01 năm Tân Mùi (1691), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái bảo, tước Tộ Quận Công, dân thường gọi là Quốc chúa.

Ở ngôi chúa 34 năm, mất vào tháng 04 năm Ất Tỵ (1725), thọ 50 tuổi.

– Sau được truy tôn là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế.

– Trong thời gian ở ngôi, Nguyễn Phúc Chu có 03 lần mở rộng lãnh thổ: Lần thứ nhất: lấy hết phần đất còn lại của Chiêm Thành (năm Quý Dậu, 1693) biên giới cực nam của xứ Đàng Trong, từ đó kéo dài đến Bình Thuận ngày nay. Lần thứ hai: Lấy một phần đất Chân Lạp tiếp giáp với xứ Đàng Trong, tương ứng với miền Đông Nam Bộ ngày nay (năm Mậu Dần,1698). Lần thứ ba: nhận đất xứ Hà Tiên do Mạc Cửu dâng. Đất này tương ứng với toàn bộ tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và một phần nhỏ của tỉnh An Giang và tỉnh Sóc Trăng ngày nay ( năm Giáp Ngọ, 1714).

7. Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú (1725- 1738)

– Con trưởng của Nguyễn Phúc Chu. Sinh vào tháng 12 năm Bính Tý (1696). Thân mẫu người họ Tống, sau được truy tôn là Hiếu Minh Hoàng hậu.

Nối nghiệp chúa từ tháng 04 năm Ất Tỵ (1725), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái phó, tước Đỉnh Quốc Công, dân thường gọi là Ninh Vương.

– Ở ngôi chúa 13 năm, mất vào tháng 04 năm Mậu Ngọ (1738), thọ 42 tuổi. – Sau được truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế.

8. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738- 1765) – Con trưởng của Nguyễn Phúc Chú. Sinh vào tháng 08 năm Giáp Ngọ (1714). Thân mẫu người họ Trương, sau được truy tôn là Hiếu Ninh Hoàng hậu.

– Nối nghiệp chúa từ tháng 04 năm Mậu Ngọ (1738), xưng là Tiết chế thuỷ bộ chư dinh, Tổng nội ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chức Thái Bảo, tước Hiểu Quận Công, dân thường gọi là Võ Vương. – Ở ngôi chúa 27 năm, mất tháng 04 năm Ất Dậu (1765), thọ 51 tuổi. – Sau được truy tôn là Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế.

– Trong thời gian ở ngôi chúa, Nguyễn Phúc Khoát đã giúp Nặc Tôn lên ngôi vua Chân Lạp. Đáp lại Nặc Tôn đã cắt dâng miền đất nằm
giữa Hà Tiên với miền đông Nam Bộ ngày nay cho chúa Nguyễn Phúc Khoát. Ngoài ra, Nặc Tôn còn cắt tặng riêng cho Mặc Thiên Tử (con Mạc Cửu, người chỉ huy quân của chúa Nguyễn giúp Nặc Tôn) 05 châu nữa. Cả 05 châu đó, triều Nguyễn đã trả lại cho Chân Lạp vào năm đầu đời Tự Đức (1848).

9. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765- 1777) – Con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát. Sinh vào tháng 11 năm Giáp Tuất (1754). Thân mẫu người họ Nguyễn, sau đi tu, được truy tôn là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư. – Nối nghiệp chúa từ tháng 05 năm Ất Dậu (1765), ở ngôi chúa 12 năm, mất vào tháng 09 năm Đinh Dậu (1777), khi bị Tây Sơn đánh đuổi ở Gia Định.

II. LỊCH SỬ TRIỀU NGUYỄN

Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, mở ra một trang sử mới cho vùng đất này. Cùng với sự phát triển và củng cố quyền lực của họ Nguyễn ở Đàng Trong, mâu thuẫn với họ Trịnh ở Đàng Ngoài ngày càng gay gắt, gây nên cuộc chiến tranh chia cắt đất nước trong suốt hơn 200 năm. Bên cạnh đó, công cuộc Nam tiến để mở rộng bờ cõi cũng được đẩy mạnh.

Đến năm 1757, các chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền trên toàn bộ vùng đất Nam bộ như chúng ta thấy ngày nay. Cùng với quá trình xây dựng và phát triển chính quyền xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã nhiều lần dời lập thủ phủ từ Ái Tử (15581570) đến Trà Bát (1570-1600), Dinh Cát (1600-1626), Phước Yên (1626-1636), Kim Long (16361687), Phú Xuân (1687-1712), Bác Vọng (1712-1738) để rồi trở về dừng chân ở Phú Xuân một lần nữa (1738-1775). Năm 1775, dưới nhiều tác động của bối cảnh chính trị – xã hội, vị chúa Nguyễn cuối cùng đã để mất Phú Xuân vào tay quân Trịnh, tiếp đó là sự sụp đổ hoàn toàn trước sức mạnh của quân Tây Sơn cho đến khi một hậu duệ của họ Nguyễn, Nguyễn Ánh khôi phục lại cơ đồ và dựng nên vương triều Nguyễn sau này.

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã thâu tóm giang sơn về một mối, lập nên vương triều Nguyễn, lấy niên hiệu là Gia Long. Phú Xuân trở thành Kinh đô của cả nước trong suốt 143 năm tồn tại của triều đại này. Kế tục sự nghiệp của ông, lần lượt 12 vị hoàng đế triều Nguyễn sau đó đã xây dựng Phú Xuân thành trung tâm chính trị, văn hóa, quyền lực của một nhà nước Việt Nam thống nhất từ Bắc đến Nam. Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn năm 1804 dưới triều vua Gia Long.

Năm 1839 vua Minh Mạng đổi tên nước thành Đại Nam với ngụ ý một nước Nam rộng lớn, quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945. (khi vua Bảo Đại thoái vị). Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19, trải qua hai giai đoạn chính: – Từ năm 1802 – 1858 là giai đoạn độc lập, từ khi vua Gia Long thống nhất đất nước đến các đời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. – Từ năm 1858 – 1945 là giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ, kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào tháng 08 năm 1945.


GIỚI THIỆU CÁC VUA NGUYỄN.


Vua Gia Long – Tên thật: Nguyễn Phúc Ánh Ngày sinh: Ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (08/02/1762). Năm lên ngôi: Ngày 02 tháng 05 năm 1802 (01/06/1802) Thời gian trị vì: 18 năm (18021820). Ngày mất: Ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (03/02/1820) Miếu hiệu: Thế Tổ Cao Hoàng Đế . Trong suốt 25 năm bôn ba chinh chiến, vua Gia Long đã khôi phục lại cơ nghiệp dòng tộc của mình, vua là người có công thống nhất mảnh đất chữ S và xác định chủ quyền với đảo Hoàng Sa – Trường Sa, đặt tên quốc hiệu Việt Nam. Nhà vua cho kiến lập hệ thống Lục Bộ và tập trung chấn chỉnh về quân sự, ngoại giao. Chú trọng đến việc học hành thi cử để tuyển chọn nhân tài.

2. Vua Minh Mạng Tên thật: Nguyễn Phúc Kiểu Ngày sinh: Ngày 23 tháng 04 năm Tân Hợi (25/05/1791) Năm lên ngôi: Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820) Thời gian trị vì: 21 năm (1820 – 1841). Ngày mất: Ngày 28 tháng Chạp năm Canh tý (20/01/1841).

Miếu hiệu: Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Trong 21 năm ở ngôi, vua Minh Mạng đã có nhiều cải cách quan trọng từ nội trị đến ngoại giao: cho bỏ các dinh và trấn, thành lập các tỉnh (cả nước lúc bấy giờ có 31 tỉnh); định lại quan chế, đặt mức lương bổng của các quan ; thống nhất việc đo lường, thống nhất y phục; khuyến khích dân khai hoang lập ấp; sửa sang hệ thống giao thông; lập nhà Dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người nghèo khổ tàn tật và những người già cả không nơi nương tựa. Đặc biệt nhà vua đề cao Nho học và khuyến khích nhân tài. Lãnh thổ được mở rộng nhất trong lịch sử và Việt Nam thực sự trở thành quốc gia hùng mạnh, vì vậy vào năm 1838 vua Minh Mạng đã cho đổi tên nước thành Đại Nam.

3. Vua Thiệu Trị Tên thật : Nguyễn Phúc Miên Tông Ngày sinh: Ngày 11 tháng 05 năm Đinh Mão (16/06/1807) Năm lên ngôi: Ngày 20 tháng Giêng năm Tân Sửu (11/02/1841) Thời gian trị vì: 07 năm (1840 – 1847). Ngày mất: Ngày 27 tháng 09 năm Đinh Dậu (04/10/1847).
Miếu hiệu: Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Vua Thiệu Trị là người hiền hòa, siêng năng việc nước, nhưng không bày ra những việc mới, việc nội trị dưới thời vua cũng như ngoại giao đều mong giữ gìn những thành quả đạt được, nối tiếp và hoàn thiện những công việc còn dở dang. Vua chú trọng việc học hành, cho tiếp tục soạn bộ “Thực lục tiền biên”, bộ “ Đại Nam hội điển sử lệ”, đồng thời bản thân nhà vua cũng nổi tiếng là người giỏi thơ văn, nổi bật nhất là “ Thần Kinh nhị thập cảnh’’.

4. Vua Tự Đức Tên thật: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm Ngày sinh: Ngày 25 tháng 08 năm Kỷ Sửu (22/09/1829) Năm lên ngôi: Tháng 10 năm Đinh Mùi (1947) Thời gian trị vì: 36 năm (18471883) Ngày mất: Ngày 16 tháng 06 năm Quý Mùi (19/07/1883) Miếu hiệu: Dực Tông Anh Hoàng Đế Tự Đức là vị vua ham học, hiểu rộng và đặc biệt giỏi văn thơ. Đã được người đời ca tụng là một ông vua rất có hiếu. Triều đại của ông đã diễn ra nhiều biến cố với vận mệnh Đại Nam, phải đối phó với thế lực phương Tây nhưng cuối cùng vẫn để quyền đất nước rơi vào tay người Pháp.

5. Vua Dục Đức Tên thật : Nguyễn Phúc Ưng Ái Ngày sinh: Ngày 04 tháng 01 năm Quý Sửu (11/ 02/ 1853) Năm lên ngôi: Ngày 19 tháng 07 năm 1883 Ngày mất: Ngày 06 tháng 10 năm 1883 Nhưng ông chỉ tại vì được ba ngày thì bị 02 vị phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hãm hại, phế truất ngôi vua.

6. Vua Hiệp Hòa Tên thật: Nguyễn Phúc Hồng Dật Ngày sinh: Ngày 01 tháng 11 năm 1847 Năm lên ngôi: năm 1883 Ngày mất: Ngày 30 tháng 10 năm Quý Mùi (29/ 11/1883) Sau khi phế Dục Đức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đưa Lãng Quốc công Hồng Dật lên làm vua, vì bất đồng quan điểm nên bị hai quan phụ chính ép uống thuốc độc chết sau khi tại vị được 04 tháng.

7.Vua Kiến Phúc Tên thật: Nguyễn Phúc Ưng Đăng, Ngày sinh: Ngày 02 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12/2/1869) Năm lên ngôi: Ngày 03 tháng 11 năm Quý Mùi (02/12/1883) Thời gian trị vì: 08 tháng ( 18831884) Ngày mất: Ngày 10 tháng 06 năm Giáp Thân (31/07/1884) Ông là vị quân chủ yểu mệnh nhất của nhà Nguyễn, băng hà lúc mới 15 tuổi.

8. Vua Hàm Nghi Tên thật: Nguyễn Phúc Ưng Lịch Ngày sinh: Ngày 17 tháng 06 năm Tân Mùi (03/8/1871) Năm lên ngôi: Ngày 12 tháng 06 năm Giáp Thân (02/08/1884) Thời gian trị vì: 01 năm (1884 – 1885) Ngày mất: Ngày 14 tháng 01 năm 1944 Được hai trọng thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Năm 1885 sau trận tập kích Pháp thất bại, được Tôn Thất Thuyết hộ giá và nhân danh ông phát động phong trào Cần Vương chống Pháp, sau 3 năm thì bị người Pháp bắt và đem an trí ở Algérie sau đó qua đời tại đây.

9. Vua Đồng Khánh Tên thật: Nguyễn Phúc Ưng Biện Ngày sinh: Ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (19/12/1864) Năm lên ngôi: tháng 08 năm 1885 Thời gian trị vì: 03 năm (1885 – 1888) Ngày mất: Ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý (28/01/1889) Miếu hiệu: Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Vua Đồng Khánh được tướng Pháp đề nghị lập làm vua lúc vua Hàm Nghi rời khỏi triều đình theo phong trào Cần Vương. Ông là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn chịu sự bảo hộ của người Pháp.

10. Vua Thành Thái Tên thật: Nguyễn Phúc Bửu Lân Ngày sinh: Ngày 22 tháng 02 năm Kỷ Mão (14/03/1879) Năm lên ngôi: Ngày 01 tháng 02 năm 1889 Thời gian trị vì: 19 năm (1889 – 1907) Ngày mất: Ngày 18 tháng 2 năm Ất Mùi (09/03/1955) Là vị vua có tư tưởng cầu tiến, yêu nước, có hiểu biết khá toàn diện.

Khác với những vị vua trước đây, ông học tiếng Pháp, cắt tóc ngắn mặc âu phục, làm quen với văn minh phương Tây. Nhà vua có tinh thần chống Pháp rất cao, nên đến năm 1907 ông bị Pháp ép thoái vị, sau đó đày sang đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.

11. Vua Duy Tân Tên thật: Nguyễn Phúc Vĩnh San Ngày sinh: Ngày 26 tháng 08 năm Canh Tý (19/09/1900) Năm lên ngôi: Ngày 28 tháng 07 năm Đinh Mùi (05/09/1907) Thời gian trị vì: 09 năm (1907 – 1916) Ngày mất: Ngày 21 tháng 11 năm Ất dậu (25/12/1945) Khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đưa đi lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916 ở Châu Âu có cuộc Thế chiến thứ Nhất, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như: Thái Phiên, Trần Cao Vân dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt đem an trí cùng vua cha Thành Thái ở đảo Réunion Ấn Độ Dương.

12. Vua Khải Định Tên thật: Nguyễn Phúc Bửu Đảo Ngày sinh: Ngày 01 tháng 09 năm Ất Dậu (08/10/1885) Năm lên ngôi: Ngày 18 tháng 05 năm 1916 Thời gian trị vì: 09 năm Ngày mất: Ngày 20 tháng 09 năm Ất Sửu (06/11/1925 ) Miếu hiệu: Hoàng Tông Tuyên Hoàng Đế Tuy kế nhiệm vua Duy Tân, nhưng Khải Định là ông vua thân Pháp nên không có được cảm tình của nhân dân.

13. Vua Bảo Đại Tên thật: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy Ngày sinh: Ngày 03 tháng 09 năm Quý Sửu (22/10/1913) Năm lên ngôi: Ngày 25 tháng 11 năm Ất Sửu (08/01/1926).

Thời gian trị vì: 21 năm (1925 – 1945) Ngày mất: Ngày 31 tháng 07 năm 1997 Bảo Đại là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn nói riêng và của chế độ quân chủ lịch sử Việt Nam nói chung. Ông được đào tạo theo Tây học, hào hoa lịch lãm, mạnh dạn bỏ một số tập tục của các vua đời trước, thực hiện nhiều cải cách về nội các, hành chính. Trong bản Tuyên ngôn thoái vị bàn giao đất nước cho đại diện cách mạng lâm thời, ông có câu nói nổi tiếng:“Trẫm muốn làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ”.

Như vậy, với 143 năm tồn tại, triều đại nhà Nguyễn đã để lại những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử dân tộc, đây chính là giai đoạn lịch sử dân tộc chuyển tiếp từ thời Trung đại sang Cận đại để bước vào thời hiện đại. Triều Nguyễn là một triều đại mà trong buổi đầu của nó được xem là đỉnh cao của chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam, với một lãnh thổ quốc gia rộng lớn và thống nhất, một nền hành chính khá vững chắc và quy củ cùng sự phát triển rực rỡ về văn hoá.Nhưng với bối cảnh lịch sử Việt Nam thời bấy giờ và sự tấn công xâm lược ồ ạt của Phương Tây, cuối cùng nhà Nguyễn đã để mất chủ quyền và đất nước rơi vào trong tay người Pháp. Riêng đối với Huế, trong mấy trăm năm làm chủ vùng đất này, họ Nguyễn đã biến một vùng đất vốn là “Ô châu ác địa” trở thành thủ phủ của Đàng Trong rồi kinh đô của cả nước. Cho đến nay, Huế là nơi duy nhất của nước ta còn giữ được khá nguyên vẹn diện mạo của một Kinh đô quân chủ phong kiến phương Đông.

LỜI KẾT
Huế là nơi duy nhất của Việt Nam có đến 05 di sản văn hoá đã được Unesco công nhận, đó là những thành tựu văn hóa mang giá trị nổi bật toàn cầu , là khối di sản văn hóa quý báu cần được trân trọng, giữ gìn và bảo vệ.

– Quần thể di tích Cố đô Huế (Di sản văn hoá của nhân loại 1993)

– Nhã nhạc cung đình (Di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại 2003)

– Mộc bản triều Nguyễn (Di sản tư liệu thế giới 2009)

– Châu bản triều Nguyễn (Di sản tư liệu thế giới 2014)

– Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Di sản tư liệu thế giới 2016)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Phúc Tộc thế phả – Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc. Nxb Thuận Hóa, 1995.

2. Đại Nam Thực Lục chính biên – Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Nxb Khoa Học xã hội, Hà Nội, 1968, tập XIX.

3. Đại Nam nhất thống chí – Quốc sử quán triều Nguyễn. Sài Gòn xuất bản, từ 1959 đến 1962.

4. Đại Nam nhất thống chí – Quốc sử quán triều Nguyễn. Nxb Khoa
IV học xã hội, Hà Nội, 1969; Nxb Thuận Hóa 1997.

5. Thần kinh nhị thập cảnh – Thiệu Trị – Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế. Nxb Thuận Hóa, 1997.

6. Những người bạn Cố đô Huế (B.A.V.H) 1914 – Nhiều tác giả. Nxb Thuận Hóa, 1997.

7. Khâm địnhĐại Nam hội điển sử lệ – Nội các triều Nguyễn. Nxb Thuận Hóa, 1993.

8. Kiến trúc Cố đô Huế – Phan Thuận An. Nxb Thuận Hóa, 1999

9. Huế Xưa và Nay – Di tích và thắng cảnh – Phan Thuận An. Nxb Văn hóa Thông tin, 2008.

10. Các triều đại Việt Nam – Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hưng. Nxb Thanh niên 1995.

11. Cố đô Huế – Thái Văn Kiểm. Sài Gòn xuất bản, 1960.

12. Dấu ấn Nguyễn trong văn hóa Phú Xuân. Phan Thanh Hải. Nxb Thuận Hóa, 2003

13. Kể chuyện chín chúa – mười ba vua triều Nguyễn. Tôn Thất Bình. Nxb Đà Nẵng, 1996. .

14. Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức của Michel Đức Chaigneau Lê Đức Quang – Trần Đình Hằng. Nxb Thuận Hóa

15. Đất nước Việt Nam qua Cửu đỉnh Huế. Dương Phước Thu. Nxb Tri thức, 2011.

16. Húy kỵ và Quốc húy thời Nguyễn. Dương Phước Thu. Nxb Thuận Hóa, 2002.

17. Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn – Nhiều tác giả. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển tuyển chọn, 2002.

18. Kỷ yếu Hội thảo “Bảo tồn và phát huy giá trị Tuồng Cung đình Huế” – Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản năm 2001

19. Kỷ yếu Hội thảo “700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân Thừa Thiên Huế” của Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế, 6/2006.

20. Di sản văn hóa Huế – Nghiên cứu và bảo tồn (Kỷ niệm 30 năm thành lập Trung tâm BTDT Cố Đô Huế 1982 – 2012).

21. Quần thể di tích Huế – Di sản thế giới. Nhóm tác giả: Phạm Đức Thành Dũng, Trần Đức Anh Sơn, Huỳnh Thị Thanh Vân – chủ biên Thái Công Nguyên – Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản năm 1999.